Thursday, February 25, 2021

quỷ quái tinh ma

 

Trong Truyện Kiều có 2 lần Kiều dùng chữ "tinh ma" để nói về Hoạn thư, và 1 lần để nói về những người độc ác nham hiểm đã đền tội trong vụ xử án trả ơn báo oán của nàng (nhờ Từ Hải trợ giúp (*01)).

Lần thứ nhất là lúc Hoạn thư vừa đón Thúc sinh trở về quê nhà Vô Tích, — khoảng 1 tháng sau ngày từ biệt Thúy Kiều ở Lâm Tri (*02):

1801Tiểu thư đón cửa dã dề,
1802Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
1803Nhà hương cao cuốn bức là,
1804. Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
1806. Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
1807. Phải chăng nắng quáng đèn lòa,
1808. Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc sinh?

Thúc sinh vô tình chưa biết là trên chuyến đi về nhà "thăm" vợ cả là Hoạn thư, bà này đã biết tin chồng mình đã lấy vợ bé ở Lâm Tri, và đã bày mưu thâm độc để trả thù hành hạ cả hai người — Thúc sinh và Kiều (*03). Thật vậy, trong khi Thúc sinh đi đường bộ từ Lâm Tri về quê nhà Vô Tích, Hoạn thư đã sai hai tên gia nhân thân tín Hoạn Ưng và Hoạn Khuyển đi tắt theo đường biển từ Vô Tích đến Lâm Tri, bắt cóc Kiều đem về làm thị tỳ cho Hoạn bà (phu nhân quan trủng tể Lại bộ thượng thư), rồi cho sang làm con ở hầu hạ Hoạn thư. Tất nhiên, lúc đó Kiều (Hoạn thư gọi tên là "con Hoa"), cũng chợt hiểu ra là nàng đã mắc bẫy Hoạn thư rồi:

1809. Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
1811. Chước đâu có chước lạ đời?
1812. Người đâu mà lại có người tinh ma?

(1812) tinh ma ác độc, hiểm quái (như con tinh, con ma).

Lần thứ hai là lúc Kiều quyết định trả ơn Thúc sinh trong vụ xử án trả ơn báo oán đã nói ở trên:

2329Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
2330. Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
2331. Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
2332Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
2333Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
2334. Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

(2333) quỷ quái tinh ma quỷ, yêu tinh, ma quái; tỉ dụ người tàn ác giảo quyệt. Xem chú giải (1812) tinh ma.

Lần thứ ba là sau khi Kiều quyết định hành hình những tên ác độc đã hãm hại nàng, từ Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng cho tới Bạc bà, Bạc Hạnh.

2389. Máu rơi thịt nát tan tành,
2390. Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời.
2391. Cho hay muôn sự tại trời,
2392. Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta.
2393. Mấy người bạc ác tinh ma,
2394. Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.

(2393) bạc ác tinh ma: xem chú giải (2333) quỷ quái tinh ma.

Không ngờ mấy chữ "quỷ quái tinh ma" đã đi vào tâm thức của mình tự bao giờ.
Khoảng một hai năm sau biến cố Tháng Tư 1975, tôi có làm một bài thơ "Gửi chị" nói về một người chị quen, — hai ba năm trước 1975, đã quyết định trở về nước, trong tình hình chiến tranh đã tới hồi khốc liệt. 
Bài thơ này tôi quên bẵng từ mấy chục năm qua.
Năm ngoái (2020) tôi bỗng được tin chị ấy đã sang Mỹ định cư. Tôi moi trí nhớ viết lại bài thơ:

gửi chị


@Đại Học Cần Thơ (Việt Nam)

Viết lại bài thơ bỏ quên từ 45 năm (2020-1975):

Không dưng mà bỗng nên quen,

Đồng tiền giúp đỡ không quên thuở nào.

Thân gà lật đật gầy hao,

Tây phương mộng mị vẫy chào chị đi.

Ước mang chút học chi li,

Đồng sâu lặn lội giúp chi quê nhà.

Tiếc thời quỷ quái tinh ma,

Hoang đường chủ nghĩa ta bà cu li.

Cúi nhìn trong kính hiển vi,

Thấy chăng vi khuẩn li ti ăn mòn.

Bây giờ xa cách nước non,

Mùa đông đẩy liếp lạnh thon thót người...

DTK

(2020/09/22)



Ôi, Nguyễn Du, người cha già tóc trắng của ngôn ngữ Việt Nam.



Chú thích

Xem những câu trích dẫn ::Truyện Kiều:: Nguyễn Du

http://vietnamtudien.org/vanhoc/tksmart.php


(*01)  
Từ Hải giúp Kiều trả ơn báo oán:

2319. Từ rằng: Ân oán hai bên,
2320. Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh.

(*02)  
Kiều dặn dò Thúc sinh khi về quê thăm vợ cả

1513. Hơn điều giấu ngược giấu xuôi.
1514. Lại mang những việc tày trời đến sau.
1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,
1516. Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
1517. Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
1518. Chén mừng xin đợi ngày này năm sau.

(*03) 
Mưu kế của Hoạn thư:

1549. Làm cho nhìn chẳng được nhau,
1550. Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên.
1551. Làm cho trông thấy nhãn tiền,
1552. Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

1837. Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
1838. Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
1839. Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
1841. Ngảnh đi chợt nói chợt cười,
1842. Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra.
1843. Tiểu thư vội thét: Con Hoa!
1844. Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn.
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
1846. Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
1847. Tiểu thư cười nói tỉnh say,
1848. Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
1849. Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.
1851. Nàng đà tán hoán tê mê,
1852. Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
1853. Bốn dây như khóc như than,
1854. Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng chung một tiếng tơ đồng,
1856. Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
1857. Giọt châu lã chã khôn cầm,
1858. Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương.
1859. Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. Cuộc vui gảy khúc đoạn tràng ấy chi?

Kiều nghĩ về Hoạn thư (khi ở Quan Âm Các):

2005. Ấy mới gan ấy mới tài,
2006. Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời.
2007. Người đâu sâu sắc nước đời,
2008. Mà chàng Thúc phải ra người bó tay.
2009. Thực tang bắt được dường này,
2010. Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.
2011. Thế mà im chẳng đãi đằng,
2012. Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng.
2013. Giận dầu ra dạ thế thường,
2014. Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu.






Wednesday, February 24, 2021

đầu tường lửa lựu

 



(...) mới đọc một lượt hai tập Mê Hồn CaĐường vào tình sử. Đọc xong, trời đã rạng đông. Bước xuống vườn khi căn nhà còn ngủ. Hồ tắm màu ngọc bích, nhẩn trên lóng tay rừng một niềm chờ xanh, một nỗi nhớ ánh ỏi. Có con chim màu vàng vụt bay hút trên rặng sồi. Bất giác hai câu thơ Đinh Hùng rụng xuống lòng tôi:

Ý chiều ngây ngất màu hoàng cúc, (...)

Lửa hạ lên rồi — ô ý liên!

(trích Liên tưởng, "Đường vào tình sử", tr. 46)

Đây là những câu thơ đẹp trong những câu thơ đẹp nhất Việt Nam.

Bây giờ là sáng. Có chiều đâu. Tuy nắng màu hoàng cúc. Màu nắng muôn đời vẫn thế, dù mặt trời lên hay mặt trời xuống. Duy cảm giác người, tươi vui hay tiếc nuối, có khác đi.

Ý chiều trong thơ Đinh Hùng ngây ngất với màu hoàng cúc. Ngây ngất là sống với, lắng vào, điếng xuống mạch đời. Già cỗi đến, khi ta hết ngây ngất cùng đời. Từ sự ngây ngất, những ý nghĩa chớm ra theo mấy chặng mùa chuyển động. Chiều chỉ là niềm chiều quạnh hiu vạn đại, khi chiều chưa ngậm ý, để thành ý chiều. Phải là ý chiều thì mới biết ngây ngất.

Kể cũng lạ, thi ca ta rất sính thu, ít nói tới mùa hạ. Biết bao người, ngồi làm thơ giữa mùa đông, mùa xuân, mùa hè, nhưng vẫn hạ bút ca tụng thu. Họ đánh quên một mùa hạ xôn xao, vừa động tình, vừa nhớ nhung da diết. Mùa của hàng triệu trái tim học trò — giới thân cận thơ.

Kẻ nào xém lửa vì cô đơn, vì bất hạnh, mất tình, hay cơ cực như Đinh Hùng, mới thấy được ngọn lửa thiêng của cơn mùa nồng cháy: Lửa hạ lên rồi!

Không phải ngọn lửa thanh nhàn của (*01) "đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông". Lửa ở đây đã được nhân sinh mớm ý, nhen sưởi hành tinh lạnh: ô ý liên!

Không phải ngọn lửa thiêu rụi như chiến tranh, hay nung chảy hồn ăn năn nơi lửa luyện ngục. Lửa ở đây nhóm trên đầu nụ sống. Hãy nhìn kia, trùng trùng những búp sen hồng, sen trắng. Kẻ thấy, người thi sĩ, chỉ kịp thốt lên một tiếng ô kinh ngạc, mừng rỡ, tụng ca. Như tụng ca giải thoát: Lửa hạ lên rồi — ô ý liên!

Thứ Lửa đã hợp đồng với Nước. Lửa và nước sánh nhau bốc bùng qua những hớp hương gieo. Vào lúc nắng hè thảng thốt tìm những lá sen nia ngã lưng ngủ giấc.

Ta hãy đọc trọn bài thơ Liên tưởng kỳ diệu này:


Ý chiều ngây ngất màu hoàng cúc,
Sao mắt Thu buồn dáng Hạ xa
Ta nhớ mà thương người xử nữ,
Áo mùa thu đọng sắc kiều hoa.

Nước cũ rưng rưng màu ngọc trắng,
Mây ngày xưa tỏ, nguyệt xưa trong.
Người xưa lẫn dáng tình sương tuyết
Riêng cặp môi kia ánh nét hồng.

Ta nhớ trăng hoa ngày hạ trước,
Nhớ hồn thảo mộc lẫn mùi hương.
Nhớ màu xiêm áo người thay đổi,
Những cánh hồng chen với cánh sương.

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,
Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
Lén bước trang đài tới gặp ta.

Yểu điệu phương Đông lướt dưới đèn.
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.
Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,
Lửa hạ lên rồi — ô ý liên!

Đinh Hùng

(toàn bài Liên tưởng, "Đường vào tình sử")


Sen, sen ơi! hãy hủy đốt mảnh hồn ta bùn đọng cho thành búp. Sen của Liên hay Liên của sen? Tên người chết yểu nơi mối tình đầu không đổi của Đinh Hùng? Hay chỉ là ngọn lửa của Đất? Là đóa sen kia đang thắp dậy mùa hè trên rặng nắng hong chín tuổi yêu đương học trò? Có tình yêu nào không lớn theo niềm ly biệt? Càng lớn lên với mối dở dang không thành. Phải không những kẻ đã có lần yêu đương?

Ba mùa cùng họp trong một bài thơ: Hạ, Thu, Xuân. Riêng Đông, thi nhân lãnh nhiệm vụ hủy phá bằng trái mìn nổ chậm của tấm lòng băng giá.

Ba mùa này không chảy theo thời gian. Mùa là không gian của dáng vóc người tình. Mùa thu là mắt. Mùa hạ là vóc thân. Mùa xuân là cái tâm ngoài, rộn nhịp cây cỏ và hương hoa. Sương tuyết là nỗi thờ ơ của nhân thế và cảnh vật, bối cảnh cho chân em dội thầm len lén tới lúc nửa khuya. Vài khi sương rời tuyết, chắp thành cánh tay em thơm mùi thảo mộc. Vì sương không vô tri như móc rơi. Sương là trạng thái chuyển vận từ hơi sang nước. Từ mối tình thoảng sang nỗi đắm đuối của thịt da tình ái. Và em. Người tình. Là một yểu điệu phương Đông, huyền rực tóc tơ. Là một dáng xuân nghiêng mặt. Là ngọn lửa linh thiêng mùa hạ. Là búp sen Liên tưởng của (*05) "dẫu lìa ngó ý còn vương tơ" đất trời.


Thi Vũ

(trích Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam 1945-1985, trang 6-9)


*§*


Blogger bỗng tự hỏi nếu không có Truyện Kiều của Nguyễn Du, thì Đinh Hùng có làm được bài thơ Liên tưởng này không. Và Thi Vũ có viết được bài điểm thơ — không tìm ra chữ, hay là phải mượn chữ (*06) của Nguyễn Du thôi: Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu


DTK

2021/02/24



Chú thích


Xem những câu trích dẫn ::Truyện Kiều:: Nguyễn Du

http://vietnamtudien.org/vanhoc/tksmart.php


(*01) 1308. Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông

(*02) 0373. Tưng bừng sắm sửa áo xiêm

(*03) 0917. Rừng thu từng biếc chen hồng

(*04) 0536. Băng mình lẻn trước đài trang tự tình

(*05) 2241. Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, 2242. Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

(*06) 1316Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu






Saturday, February 20, 2021

đầu trâu mặt ngựa


Ai từng đọc qua Truyện Kiều, dù ở bậc trung học qua chương trình dạy Việt văn năm đệ Tứ (tức là lớp 9 bây giờ), cũng khó quên bốn chữ "đầu trâu mặt ngựa" trong đoạn miêu tả cảnh Vương viên ngoại, cha nàng Vương Thúy Kiều, bị vu cáo và bị bọn sai nha (triều đình nhà Minh bên Tàu)  đến nhà bắt bớ hành hung:


tranh Tú Duyên (1915-2012)




0577. Người nách thước, kẻ tay đao,

0578Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

0579Già giang một lão một trai,

0580. Một dây vô lại buộc hai thâm tình.


Năm 1975, một người bạn của tôi, còn kẹt lại ở Sài Gòn, nhìn tận mắt cảnh bộ đội công an Nhà nước nhào vô thành phố vơ vét chiếm đóng nhà cửa nhân dân, xúc cảnh sinh tình, liền bật ra 2 câu Kiều đã dẫn ở trên:


0577. Người nách thước, kẻ tay đao,

0578Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.


"Đầu trâu mặt ngựa" ở đây chỉ "bộ đội công an" Nhà nước vậy.


Gần đây, tôi mới tìm được nguồn gốc sâu xa của 4 chữ này trong kinh sách Phật giáo.


đầu trâu mặt ngựa: chỉ bọn người hung ác. Do chữ "ngưu đầu mã diện" 牛頭馬面. 

(1) Ngưu Đầu 牛頭 (tiếng Phạm: Gośīrṣa) là tên của một ngục tốt ở địa ngục, tức A Bàng La Sát 阿傍羅剎. Theo kinh Ngũ Khổ Chương Cú, thì hình tượng của A Bàng là đầu trâu tay người, hai chân có móng trâu, sức mạnh có thể dời núi, tay cầm xoa sắt, mỗi xoa có ba mũi nhọn, có thể xiên vài trăm vạn người có tội ném vào trong vạc dầu. 

(2) Mã Diện 馬面 (tiếng Phạm: Aśvaśīrṣa) là tên một quỷ sứ ở địa ngục. Theo kinh Lăng Nghiêm 楞嚴: Ngục tốt Ngưu Đầu, Mã Đầu La Sát, tay cầm thương mâu, xâm nhập vào thành, đi tới Địa ngục Vô Gián. Chiều rộng của địa ngục này là 84.000 do tuần, thân hình của các chúng sinh chịu khổ trong địa ngục này cũng cao 84.000 do tuần, bởi thế thân hình chúng sinh đầy ắp khoảng không gian của địa ngục, không xen kẽ, không cách hở, cho nên gọi là "thân hình vô gián địa ngục" 身形無間地獄 (Phật Quang Đại Từ Điển 佛光大辭典).



Gần 50 năm qua, đất nước Việt Nam đang trải qua một thời kì đen tối nhất trong lịch sử xưa nay.


Mấy ngày đầu năm 2021 vừa qua lại xảy ra trường hợp kết án 3 nhà báo nhân quyền.


Dư luận thế giới vô cùng ngạc nhiên và phẫn nộ trước 3 bản án nghiêm khắc ngày 05-01-2021 mà Tòa án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh giáng xuống cho 3 nhà báo độc lập thuộc Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, 15 năm tù cho Phạm Chí Dũng, và 11 năm tù cho Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn.


Hỡi ơi, "đầu trâu mặt ngựa" bây giờ không chỉ là đám chân tay sai bảo của Nhà nước nữa. Chúng đã thăng cấp lên bậc Tòa án Nhà nước rồi, nhân dân ơi.


Lại phải gọi tới một câu khác trong Truyện Kiều:


1706. Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.


Đọc lại đoạn văn miêu tả cái địa ngục "vô gián" trên đây không khỏi kinh hoàng.


http://vietnamtudien.org/vanhoc/tk_kieu.php?page_no=49











 

Friday, February 19, 2021

rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

 

1519. Người lên ngựa kẻ chia bào,

1520. Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Đó là 2 câu thơ trong Truyện Kiều mà tôi rất thích từ xưa.

Tôi cũng thích luôn lời chú giải của Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim, dẫn câu thơ trong vở Tây sương ký 西廂記 của Vương Thực Phủ:

Thu lai thùy nhiễm phong lâm thúy 

秋來誰染楓林翠 

Mùa thu ai đem nhuộm mất cái màu xanh của rừng cây phong.

Sau này, xem lại vở kịch do Nhượng Tống dịch:

Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi, 

Phải chăng nước mắt của người biệt li?

và tìm thấy nguyên văn chữ Hán của 2 câu thơ trên như sau:

Hiểu lai thùy nhiễm sương lâm túy? 

Tổng thị li nhân lệ 

曉來誰染霜林醉? 總是離人淚 

(Đệ tứ bổn 第四本, Đệ tam chiết)

Có 2 chữ khác biệt so với câu trích dẫn của Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim:

"sương lâm túy" chứ không phải là "phong lâm thúy".

Chữ túy 醉 Nhượng Tống dịch thoát thành "đỏ tươi" (như say rượu) thì cũng đoán ra được.

Nhưng tại sao 2 chữ "sương lâm" 霜林 Nhượng Tống lại dịch là "rừng phong" mới lạ.

Thưa phải tìm đến bài thơ của Đỗ Mục 杜牧 sau đây:

Đình xa tọa ái phong lâm vãn 

Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa 

停車坐愛楓林晚, 霜葉紅於二月花 (Sơn hành 山行) 

Dừng xe vì yêu thích rừng phong buổi chiều

Lá đẫm sương còn đỏ hơn hoa tháng hai

Do đó mới hiểu tại sao "sương lâm" 霜林 có nghĩa là rừng phong. 

Tạm dịch lại ra văn xuôi hai câu thơ đã dẫn trong Tây sương ký: 

Rừng phong buổi sáng ai nhuộm đỏ như say rượu, 

Đều là nước mắt của người biệt li

Và bây giờ mới thấy Nhượng Tống dịch thơ tuyệt vời: 

Rừng phong ai nhuộm đỏ tươi, 

Phải chăng nước mắt của người biệt li? 

Riêng trong trường hợp hai chữ "rừng phong" này, tôi tò mò tìm xem các nhà chú giải khác đã viết ra sao. 

Điều khá bất ngờ là cả 2 nhà chú giải có uy tín (sau Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim) là Nguyễn Văn Anh và Đàm Duy Tạo lại vẫn dùng đúng theo câu thơ chữ Hán do Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim trích dẫn từ Tây sương ký.

Mỗi người chỉ dịch khác đi một chút (khó khăn ở chữ túy 醉 viết sai thành chữ thúy 翠):

Nguyễn Văn Anh: (1520) rừng phong: 楓林 mùa thu tới, còn ai nhuộm được rừng cây phong cho thành màu xanh (vì cây phong mùa thu thì lá úa đỏ).

(cf. Truyện Kiều Tập Chú trang 447)

Đàm Duy Tạo[25] Rừng phong thu đã nhuộm màu quan sơn – Phong là loài cây to lá hình bàn tay có ba hay năm mảnh, đến mùa thu thì lá màu đỏ đẹp, nhưng cuối thu thì tàn rụng rất buồn. (...) Câu Kiều này lại dùng thêm điển ở một câu trong Tây sương ký “Thu lai thùy nhiễm phong lâm thúy [秋來誰染楓林翠] = Mùa thu đến, còn ai nhuộm được sắc rừng phong cho nó xanh trở lại?”

(http://viethocjournal.com/2020/06/kim-van-kieu-dinh-giai-chuong-17/)

Riêng Văn Hòe chú giải theo một thể điệu khác như sau:

chú giải số 1325. phong là một giống cây lá to mọc thành tán, xưa đời Hán hay trồng ở sân nhà vua. Vì thế điện vua gọi là phong đình, phong điện hoặc đền phong. Cây phong ngờ là cây bàng bên ta. (...) Sang mùa thu, thì lá bàng vàng và đổ dần sang màu đỏ sẫm. Màu ấy đặt vào đám rừng cây xanh thì nổi bật lên, rất dễ nhận. (cf. Nguyễn Du, Truyện Kiều, Văn Hòe chú giải và bình luận, trang 396)

Cho thấy rằng công việc chú giải Truyện Kiều không phải dễ dàng.

Xem đây bức tranh Tú Duyên (1915-2012) minh họa đoạn thơ này:

https://xem-nom-thuy-kieu.blogspot.com/2020/12/tu-duyen-1915-2012.html


Phong cảnh rất Việt Nam, nhưng không rõ cây phong là cây nào trong tranh.

Ở đây, Kiều đang chia tay với Thúc sinh về quê nhà ở Vô Tích thăm vợ cả là Hoạn thư. Kiều trao cho Thúc sinh một sứ mạng quan trọng, nghĩa là tìm cách dàn xếp ngôi thứ trong nhà:

1509. Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

1510. Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.

1511. Dù khi sóng gió bất tình,

1512. Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.

1513. Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,

1514. Lại mang những việc tày trời đến sau.

1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,

1516. Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.

1517. Chén đưa nhớ bữa hôm nay,

1518. Chén mừng xin đợi ngày này năm sau.

Thúc sinh thi hành sứ mạng đó ra sao, xin xem phần sau sẽ rõ.








kẻ ở

 

Thơ Quang Dũng, bài Kẻ ở:


Mai chị về em gửi gì không?

Mai chị về nhớ má em hồng

Đường đi không gió lòng sao lạnh 

Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong. 

Quê chị về xa tít dặm xa

Rừng thu chiều xao xác canh gà

Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngã

Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua.

Ngựa chị dừng bên thác trong veo

Lòng chị buồn khi nắng qua đèo

Nơi đây lá giạt vương chân ngựa

Hươu chạy quay đầu theo ngó theo.

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang

Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng

Sao rơi đáy nước vương chân ngựa

Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng. 



Trước đây, tôi không để ý đến cái tựa của bài thơ.

Trong bài cũng chỉ thấy nói tới người đi, mà lại nói: "Mai chị về...", coi có lạ không chứ!

Bỗng tôi tự hỏi cái tựa bài thơ này của Quang Dũng không biết có phải mượn từ câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều?

0781. Đau lòng kẻ ở người đi,
0782. Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.

Càng đọc Truyện Kiều người ta càng thấy ảnh hưởng của Nguyễn Du về ngôn ngữ -văn chương - tư tưởng... trong văn học sâu đậm biết dường nào.

http://vietnamtudien.org/vanhoc/tk_kieu.php?page_no=66














vũng lầy

 

Đọc đến 2 câu thơ này trong Truyện Kiều:

1959. Chút thân quằn quại vũng lầy,
1960Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?

chợt nhớ ngay đến bài hát của Lê Uyên & Phương: "Vũng lây của chúng ta", nghe đã lâu lắm rồi, như từ kiếp nào xưa.



Không biết tác giả bản nhạc có chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều không, khi chọn cái nhan đề như vậy? Và cả đoạn kết lê thê:

Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết cơn cơn ê chề
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu

https://www.youtube.com/watch?reload=9&v=-L-97QSrgKs


Tìm trên Internet được một bài viết vô cùng cảm khái (*01):

Cho tôi nói lời cảm ơn cố nhạc sĩ và ca sĩ Lê Uyên Phương. Mong rằng những ngày còn lại, bà vẫn mãi hoài là nỗi đam mê trong từng bài nhạc của ông, dù thời gian có khi đã làm thanh âm bà không còn như xưa! Nhưng có hề gì! Niềm đam mê vẫn mãi tiềm ẩn đâu đó trên những nhánh sông đời!
(Nguyễn Kim Tiến)

Theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chắt hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn
Yêu nhau giữa đám rong rêu, theo dòng nước cuốn lêu bêu
Đi qua những phố thênh thang, đi qua với trái tim khan
Ði qua phố bước lang thang, đi qua với trái tim khan
Theo em xuống phố trưa mai đang còn nhức mỏi đôi vai
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn
Qua đi, qua đi dứt cơn mê
Tình buồn chồng chất lê thê
Qua đi, qua đi dứt cơn say
Tình này tình rồi thay
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết cơn cơn ê chề
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết một, một lần đau.

https://www.youtube.com/watch?v=UltM4wOF_wE
https://www.youtube.com/watch?v=55FTNMlyh-c
https://www.youtube.com/watch?v=t9eh2HcmlOg




Chú thích

(*01) https://www.facebook.com/TinhKhucBatTu/posts/1833810136643225/






Thursday, February 18, 2021

hồng trần

 












Chỉ cần 14 chữ, Nguyễn Du đã vẽ ra cảnh tượng chuyến đi định mệnh của nàng Kiều:

Đùng đùng gió giục mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay
(câu 0907-0908)

Hồng trần, ở đây phải hiểu ra sao?

Bụi bặm?
Cảnh phồn hoa náo nhiệt?
Cõi đời thế tục?

> Nghĩa thứ ba là theo thuật ngữ Phật giáo.
> Nghĩa thứ nhì là như hai hòn đá linh trong hồi Một, tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, muốn xin đạo sĩ cho đầu thai xuống trần được hưởng vinh hoa phú quý.
> Nghĩa thứ nhất là cho những trường hợp nói về đất cát bụi bẩn.

Trong câu thơ Truyện Kiều ở trên, hình như Nguyễn Du có ý bao gồm cả 3 nghĩa của 2 chữ "hồng trần".

"Hồng trần" có thể dịch giản dị là "bụi đỏ". Nhưng hiểu ra sao, cái đó tùy nhà thơ hay tùy theo người đọc.

Ai mang bụi đỏ đi rồi?
Ai mang bụi đỏ đi rồi?
(Phạm Thiên Thư)

Đó cũng là hình tượng cuộc lữ của mỗi một người chúng ta trong chốn bụi đời.