Tuesday, November 10, 2020

Hoàng Hải Thủy: Vịnh Kiều Tại Ngục

 


 Posted on September 2, 2011 by hoanghaithuy

Tháng Hai năm 2011, một điện thư đến với tôi.

Người gửi THC. Hà Nội.  February 14, 2011:


“Thưa Cậu, cháu ngồi quán café đọc Cậu Vịnh Kiều. Quá hay. Cám ơn Cậu. Không biết Cậu Mợ nay có còn giữ được chiếc Áo Vàng Hoa không? Mấy dòng chữ này cháu gửi sang từ điện thoại di động của cháu, cháu mong Cậu đọc được. Kính.”

THC là anh cháu tôi. Anh ở Hà Nội. Tháng Hai 2011 anh đọc tập “Tại Ngục Vịnh Kiều” trên “hoanghaithuy.com” trong một quán cà-phê ở Hà Nội, anh viết cho tôi về cảm nghĩ của anh. Hôm nay – ngày 29 Tháng Tám 2011 – ở Rừng Phong, Xứ Kỳ Hoa, tôi viết bài này.


Gửi THC. Cậu viết bài này tặng anh. Cậu còn một số chuyện để viết về Kiều và bàn loạn về Kiều. Cậu sẽ viết từ từ và dzài dzài. Cậu muốn viết những chuyện Kiều Cậu chưa kể, chưa bàn loạn trong Tại Ngục Vịnh Kiều. Thư của anh làm Cậu đi một đường cảm khái. Cậu nhớ:

Thúy Kiều gặp lại Sư Giác Duyên trên sông Tiền Ðường.
Tranh Vẽ của Hoạ sĩ Mạnh Quỳnh, minh hoạ
tác phẩm “Kim Vân Kiều” tiếng Pháp,
do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, xuất bản năm 1942.


Những đêm nằm phơi rốn trên nền xi-moong Nhà Tù Chí Hòa – Nhà Tù Lớn Nhất, Hiện Ðại Nhất Ðông Dương – phòng tù lổn ngổn những người, ông tù nào cũng ở trần, quần sà-lỏn – nhưng chuyện lạ đáng kể là 10 giờ đêm, Kẻng Ngủ vang lên, mọi hoạt động trong phòng giam ngừng lại, khi cái mùng được mắc lên, khi người tù là tôi nằm trong cái mùng, tôi có cảm giác tôi được cách xa mọi người, tôi được ở trong cõi riêng tư của tôi, tôi nhắm mắt mơ màng và tôi làm Thơ: những lời Thơ Vịnh Kiều.

Như 17 triệu 945.310  người công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà – Quốc Gia bị tiêu vong – làm Thơ trong Ngục Tù Bắc Cộng, tôi nằm làm Thơ Nhẩm. Làm được một đoạn sáu câu, tám câu, phải ngừng lại, nhẩm đi, nhẩm lại cho thật thuộc, thuộc đến không còn gì có thể thuộc hơn, thuộc đến cái độ tin rằng sẽ không bào giờ mình quên, yên tâm rối rồi mới làm tiếp. Làm xong một bài, nhẩm lại năm, bẩy lượt cho thật nhớ. Rồi nhẩm lại những bài Thơ đã làm trong những đêm trước. Xong những việc ấy người Tù làm Thơ Vịnh Kiều trong Tù mới ngủ.

Cứ như thế trong Nhà Tù Chí Hoà tôi làm được một số bài Thơ Vịnh Kiều. Năm 1989 tôi đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A chân núi Chưá Chan, Xuân Lộc; ở Trại Tù Khổ Sai người Tù được dùng giấy bút, tôi chép những bài Thơ Vịnh Kiều của tôi lên giấy, vợ tôi đến trại thăm tôi, tôi gửi nàng mang những trang Thơ của tôi về Sài Gòn. Tôi gửi được những Trang Thơ Vịnh Kiều Trong Tù của tôi sang Hoa Kỳ. Năm 1995 ở Hoa Kỳ tôi viết những lời bình loạn bên những bài thơ vịnh Kiều tôi làm sáu năm trước trong tù ngục CS, tôi đặt tên tập Thơ của tôi là Tại Ngục Vịnh Kiều, năm 1996 Nhà Làng Văn, Canada, xuất bản tác phẩm Tại Ngục Vịnh Kiều.

Tháng Hai 2011, 20 năm sau những đêm tôi làm những bài Thơ Vịnh Kiều trong Nhà Tù Chí Hòa, một người ở Hà Nội đọc những bài Thơ ấy trên Internet. Cảm khái cách gì!

Những lời Thơ tôi kể ở đây đã có trong Tại Ngục Vịnh Kiều, tôi kể những lời Thơ này với những vị không đọc Tại Ngục Vịnh Kiều trên Internet.


Ðêm trong Ngục nghe Kiều đàn


Ðàn Em gió táp, mưa sa

Thiên Sơn đá lở, Hằng Hà cát rơi.

Ðàn Em xao động Ðất Trời,

Cung Thương, Cung Nhớ, Cung Người, Cung Ta!

Ðàn Em rung chuyển Ta Bà,

Tiếng gần gang tấc, tiếng xa ngàn trùng.

Em đàn từ Thủy sang Chung,

Tiếng Tan, tiếng Hợp, tiếng Cùng, tiếng Chia.

Nghe đàn Ta Tỉnh hay Mê?

Như Ði, như Ở, như Về, như Ra.

Ðàn Em quằn quại Hồn Ta.

Yêu mà Lệ rớt, Thương mà Máu rây!

Ta nghe đàn ở kiếp này,

Hay từ muôn kiếp những ngày xa khơi.

Kiếp nào Ta, kiếp nào Người?

Sao nhiều tiếng Khóc, tiếng Cười lắm thay?

Kiếp nào dở, kiếp nào hay?

Kiếp nào Ta đã, Kiếp này lại Ta!

Kiếp nào bướm, kiếp nào hoa?

Ta là hồ điệp, ta là Trang Châu!

Kiếp nào vui, kiếp nào sầu?

Ta là Tư Mã phượng cầu Văn Quân?

Kiếp nào xa, kiếp nào gần?

Thang lan Em tẩm thơm ngần thiên nhiên.

Kiếp nào Nhớ, kiếp nào Quên?

Ðào Nguyên Em nguyện, Ta nguyền Thiên Thai!

Kiếp nào Ðúng, kiếp nào Sai?

Mái Tây Anh lỡ Em hoài ngàn năm!

Kiếp nào Oán, kiếp nào Căm?

Cỏ xanh dưới mộ Em nằm tuyết sương!

Kiếp nào Tiếc, kiếp nào Thương?

Nhớ nhau dạ vũ Nghê Thường tim nhau.

Kiếp nào Trước, kiếp nào Sau?

Kiếp nào Tử Biệt, kiếp nào Sinh Ly?

Kiếp nào Ðến, kiếp nào Ði?

Kiếp nào khăn gấm, quạt quì trao tay?

Kiếp nào Trả, kiếp nào Vay?

Kiếp nào Yêu để kiếp này Nhớ Thương?

Ðàn Em xao động Âm Dương,

Ðàn Em rung chuyển mọi đường trần gian.

Ba sinh hương lửa chưa tàn.

Tỉnh Mê nghe tiếng Em đàn thương nhau.

Ðàn Em gió thảm, mưa sầu,

Hồn Ta rỏ máu từ đầu đến chân.

Ðàn Em Trời Ðất vang ngân,

Thời Gian Trăng vẫn in ngần Mày Em!


«Ðêm trong Ngục nghe Kiều đàn» 72 câu lục bát. Trong Thơ có nhiều điển tích Tầu, như:


Kiếp nào Ðúng, kiếp nào Sai?

Mái Tây Anh lỡ Em hoài ngàn năm!

Kiếp nào Oán, kiếp nào Căm?

Cỏ xanh dưới mộ Em nằm tuyết sương!

Kiếp nào Tiếc, kiếp nào Thương?

Nhớ nhau dạ vũ Nghê Thường tim nhau.



Chuyện Tình Dưới Mái Tây Hiên, Thôi Oanh Oanh yêu Trương Quân Thụy, chuyện Chiêu Quân chết trên đất Hồ, chuyện Ðương Minh Hoàng thương nhớ Dương Quí Phi, mơ lên Cung Trăng tìm Nàng.

Trang đầu quyển Truyện Thúy Kiều do ông Trần Trọng Kim và ông Bùi Kỷ chú giải, xuất bản năm 1950. Quyển Kiều này theo CTHÐ (*1) vào Nhà Tù Chí Hoà, theo CTHÐ (*1) sang Kỳ Hoa Ðất Trích.

Tôi làm bài Thơ «Ðêm trong Ngục nghe Kiều đàn» trong hai đêm. Nay nhớ lại, tôi không biết tại sao những đêm xưa trong Nhà Tù Chí Hòa tôi làm được những lời Thơ như thế, tại sao năm xưa tôi có thể làm Thơ Nhẩm trong óc và tại sao tôi Nhớ được!

Tôi đọc Kiều lần đầu những năm 1940, 1941, năm tôi chưa đầy 10 tuổi. Bản Truyện Kiều thứ nhất tôi đọc là bản Truyện Kim Vân Kiều của chị tôi, loại sách phổ thông không có lời bình chú những năm xưa ấy được bán ở những tiệm tạp hoá. Tôi đọc Kiều mà chẳng hiểu gì cả. Tôi nghe loáng thoáng người lớn nói về một người nào đó tên là Sở Khanh với giọng khinh miệt: «Thằng đó là thằng Sở Khanh! Ðồ Sở Khanh!» Nên tôi théc méc khi thấy trong Truyện Kiều có anh Sở Khanh. Tôi nghĩ: «Ai cũng biết Sở Khanh là thằng không ra gì. Sao nó lại lấy tên là Sở Khanh? Tên là Sở Khanh thì còn lừa ai được?’


Năm 1948, 1949, một anh trong cơ quan tôi có quyển Truyện Kiều. Tôi mượn đọc, khi tôi trả anh quyển sách, anh hỏi tôi:

«Trong Kiều, chú thích nhân vật nào nhất?»

Tôi trả lời:

«Em thích Thúc Kỳ Tâm.»

Anh ngạc nhiên:

«Thúc Sinh là thằng ăn chơi, sợ vợ. Nó có cái gì mà chú thích nó?»

Năm xưa ấy tôi không thể nói tại sao tôi thích Thúc Sinh. Nhiều năm sau, khi nhớ lại, tôi thấy tại sao tôi thích nhân vật Thúc Sinh, người tôi gọi là Công Tử Chạp Phô:

Tại sao tôi không thích Kim Trọng? Tôi không đẹp trai, người ngợm không có một xu hào hoa phong nhã, tôi học dzốt, đã dzốt lại lười, thích chơi hơn học, tôi không thích làm quan, những ông Phủ, ông Huyện tôi được thấy năm tôi nhỏ ở thị xã Hà Ðông bên hông Hà Nội không ông nào tôi có cảm tình, ông nào cũng làm tôi chán ngấy. Ðọc trong tiểu thuyết Giông Tố của ông Vũ Trọng Phụng, tôi thấy những ông tri phủ, tri huyện tệ mạt quá cỡ thợ mộc. Vì vậy tôi không thích Kim Trọng.

Tại sao tôi không thích Từ Hải? Mèn ơi..! Còn hỏi tại sao nữa! Tôi tổ sư Nhát, tôi không thích đánh nhau, tôi không muốn đánh ai, tôi không muốn ai đánh tôi, tôi không thích võ nghệ, tôi muốn sống một đời an nhàn, vô sự. Tôi có khùng đâu mà thích Từ Hải. Nội cái chuyện Từ Hải bị Chít Ðứng là tôi «kính nhi viễn chi.»

Dzài dzài trong bao nhiêu năm mỗi lần nhớ lại, xét lại, tìm hiểu tại sao tôi thích Thúc Sinh, tôi thấy việc tôi thích Thúc Sinh là hợp lý. Là có căn nguyên. Tôi có cảm tình với Thúc sinh vì tôi giống Thúc Sinh. Như Thúc sinh, tôi ham chơi, tôi không dám nhận trách nhiệm, đúng hơn tôi trốn trách nhiệm, tôi dzễ dzàng làm những việc tôi không được quyền làm, tôi hay Khóc như Thúc Sinh, tôi biết việc tôi làm là bậy nhưng tôi cứ làm, tôi cãi bướng: «Trót vì tay đã nhúng chàm… Dzại dzồi còn biết Khôn làm sao đây..» Và như Thúc Sinh, đến phút cuối cùng, tôi rơi nước mắt nói với Nàng:


«Liệu mà xa chạy, cao bay!

Ái ân ta có ngần này mà thôi.»


Em trốn đi Em, Trời Ðất khép.

Dâu biển Tình Ta cũng hợp tan!


Thúy Kiều có ba người đàn ông trong đời nàng, nàng có ba người tình: Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải. Tình của Kiều với Kim Trọng là Tình Lãng Mạn, Tình Nữ sinh, Tình Trinh Nữ, Tình Gái Nhà Lành mới lớn, Tình chưa đi đến đâu cả, Tình Thề Thốt Vẩn Vương, Tình chỉ mới có mấy cái nắm tay nhau, Tình chưa một lần hôn má. Tình của Kiều với Từ Hải là thứ Tình không có Tình Yêu, lại càng không có Tình Thương, Tình Oan Trái. Kiều chỉ có mối Tình với Thúc Sinh là đáng kể.

Tôi thấy ông Tri Phủ Lâm Tri biết tài sắc ngàn vàng của Kiều, ông Tri Phủ làm cho Thúc Ông vác đơn kiện anh con bị tẽn tò, ông Tri Phủ làm chủ hôn  đám cưới cho Kiều làm vợ Thúc Sinh, là người yêu Kiều chân chính và thầm kín. Tri Phủ yêu Kiều nhưng không đòi hỏi được hưởng thân xác thơm như múi mít của Kiều. Yêu đàn bà đẹp như dzậy mới là Yêu. Ông yêu Kiều nhưng ông không có cơ duyên, cơ hội và điều kiện yêu Kiều. Trong Tại Ngục Vịnh Kiều tôi trách Thúy Kiều đã quên ông Tri Phủ Ða Tình Hào Hoa Số Một Thành Lâm Tri. Khi thành Lệnh Bà, nàng làm cuộc thanh toán ân oán, nàng thẳng tay hành hạ những kẻ làm hại nàng, nàng đền ơn ngàn vàng cho bà Vãi Giác Duyên – bà này không đáng dược nàng đền ơn – nhưng nàng quên ông Tri Phủ.


Lập Tòa Em xử vẩn vương,

Trách Em ân oán đôi đường chưa minh.

Lâm Tri tri phủ đa tình,

Gả chồng công lớn, sao mình lại quên?

Ngàn vàng Em tạ Giác Duyên.

Bố Già vất vả Em chẳng đền một xu.

Kiếp này Em lại vụng đường tu! (*2)


Tình Kiều-Thúc Sinh là Tình đến nơi, đến chốn. Tình đầy đủ phải có Tình Dục. Tình Thúy Kiều-Kỳ Tâm có đủ thứ Tình cần phải có trong Tình Yêu. Tôi thấy trong ba người đàn ông yêu Kiều, Thúc Kỳ Tâm là người yêu thương Kiều nhất. Kỳ Tâm là người được Thúy Kiều yêu nhiều nhất.

Với tôi, những lời Thơ Nhớ Thương Tuyệt nhất trong Kiều, Tuyệt nhất trong Thơ Việt từ ngày Việt Nam có Thơ Nhớ Thương, là những lời tả Tình Yêu Thúy Kiều của Thúc Kỳ Tâm:


Mày ai trăng mới in ngần.

Phấn thừa, hương cũ bội phần xót xa. (*3)


Dẫu rằng sông cạn, đá mòn.

Con tằm đến thác cũng còn vương tơ.


Thúc Kỳ Tâm khóc vì thương Thúy Kiều năm lần.


Khóc khi Kiều bị Tri Phủ Lâm Tri đánh:


Khóc rằng: “Oan khuất vì ta,

Có nghe lời trước, chẳng đà lụy sau.”


Khóc khi từ Vô Tích trở về Lâm Tri, thấy Kiều chết:


Hỡi ơi! Nói hết sự duyên,

Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan.

Gieo mình vật vã khóc than:

“Con người thế ấy, thác oan thế này...”


“Nói hết sự duyên” ở đây là “Làm sao nói hết sự duyên.”


Khóc khi về Vô Tích, thấy Thúy Kiều là Hoa Nô:


Sợ quen dám hở ra lời,

Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi rỏ sa.


Sinh càng như dại như ngây,

Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi.


Khóc khi nghe Kiều đàn trong bữa tiệc gia hình do Hoạn Thư tổ chức:


Giọt châu lã chã khôn cầm,

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.


Khóc khi đến với Kiều ở Quan Âm Các:


Thừa cơ Sinh mới lẻn ra,

Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.

Sụt sùi dở nỗi đoạn tràng,

Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh.


Trong những đêm mần Thơ Vịnh Kiều trên sàn xi-moong Nhà Tù Chí Hòa, tôi diễn tả Tình Kỳ Tâm yêu Thúy Kiều bằng những lời tha thiết nhất:


Vàng phai, đá nát đành ly biệt,

Núi mòn, sông cạn vẫn tình quân.

Em trốn đi Em, trời đất khép.

Dâu biển tình ta cũng hợp tan.

Liệu mà xa chạy, cao bay tuyệt.

Ái ân ta có bấy nhiêu ngần.

Hồn Anh trọn kiếp mê hồ điệp,

Thịt xương run mãi ngón Em đàn.

Em có nhớ chăng, Em có tiếc

Những mùa yêu cũ đã tiêu tan?

Nhớ những chiều vàng, đêm ngọc biếc

Còn nhớ ngày Em tắm giữa màn?

Phấn thưà, hương cũ đau khôn xiết.

Mày Em trăng mới vẫn in ngần.

Em yêu Anh nhất, thơ còn viết.

Sợ vợ hay không mặc chúng bàn.


o O o



 Truyện Thúy Kiều, Nhà Tân Việt xuất bản ở Sài Gòn Tháng Giêng năm 1950. Viết “Giấy phép xuất bản của bộ Thông Tin Nam Việt” là không đúng. Năm 1950 Quốc Gia VN có ba kỳ, mỗi kỳ có một Nha Thông Tin. Giấy phép xuất bản quyển Truyện Thúy Kiều này do Nha Thông Tin Nam Việt cấp.

Tôi cảm khái khi thấy trong một quyển Truyện Kiều của tôi, tìm được sau năm 2000, có chừng 10 bức tranh minh hoạ của Họa sĩ Mạnh Quỳnh. Ðã 60 năm tôi mới lại được thấy nét vẽ của Họa sĩ Mạnh Quỳnh. Nhiều người Việt năm nay tuổi đời Sáu Bó, không biết Mạnh Quỳnh là ai. Với tôi, những năm 1941, 1942 tôi 10 tuổi, Mạnh Quỳnh là hoa sĩ nổi tiếng ở Bắc Kỳ. Ông vẽ nhiều tranh cho thiếu nhi. Tôi rất thích nét vẽ của ông. Tôi không nhớ năm 1942 hay 1943, ông bố tôi đi Hà Nội mua cho tôi quyển “Guy-li-ve Du ký” bằng tranh vẽ của Họạ sĩ Mạnh Quỳnh. Tác phẩm mới xuất bản. Tôi quí quyển sách hơn vàng. Tôi mang sách tản cư chạy loạn về làng quê với tôi. Tôi mất sách trong cơn binh lửa. Hoạ sĩ Mạnh Quỳnh ở lại Hà Nội sau năm 1954. Không thấy ông sáng tác gì ở Hà Nội sau năm đất nước bị chia cắt. Ông muốn làm phim hoạt hoạ Việt Nam  nhưng ước muốn của ông không thành. Tôi không biết  ông mất năm nào.

Tôi có khoảng 10 quyển sách theo tôi từ Sài Gòn sang Kỳ Hoa, trong số có quyển Truyện Thúy Kiều. Tôi đăng 2 trang Truyện Thúy Kiều trong bài này. Tôi mua Truyện Thúy Kiều năm 1952 ở Sài Gòn. Năm 1988 sau khi có án, tôi sang nằm Khu FG Nhà Tù Chí Hoà chờ lên cái gọi là Tòa Trên xử lại, rồi đi Trại Tù Khổ Sai. Khu FG giam những người tù đã có án nên kỷ luật được nới hơn những khu khác. Tôi nhắn vợ con tôi gửi vào nhà tù cho tôi quyển Truyện Kiều. Quyển Truyện Thúy Kiều này vào Nhà Tù Chí Hòa với tôi. Tôi nằm đọc Kiều trong Nhà Tù và đêm đêm làm những bài Thơ Vịnh Kiều. Tôi đem quyển Truyện Thúy Kiều này lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A. Mãn án, tôi đem Truyện Thúy Kiều trở về mái nhà xưa của tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Khi tôi sang Mỹ, sợ bị công an khám xét, tôi để Truyện Thúy Kiều ở nhà. Con tôi gửi người mang sang Kỳ Hoa cho tôi. Hiện Truyện Thúy Kiều ở Rừng Phong với tôi.

Truyện Thúy Kiều là quyển sách có số tuổi cao nhất trong số sách của tôi. Sách ra đời – được in – năm 1950. Tới hôm nay – Ngày 29 Tháng 8, 2011, sách có tuổi đời Sáu Bó Lẻ Một Que. Như người đàn bà đẹp, sách già đi, những trang giấy, như làn da người, trở thành vàng uá, khô cứng, rạn nứt, rời rã theo năm tháng. Sách mất bìa, long gáy, nhiều trang rách. Sách ở với tôi ở Sài Gòn, trong ngục tù cộng sản, ở Kỳ Hoa Ðất Trích. Ðến sau ngày tôi không còn ở cõi đời này, nó sẽ mất theo tôi.

Tôi sẽ viết, sẽ bàn loạn, dzài dzài về Kiều.  Bắt chước ông Trương Tửu, tôi muốn viết về những chuyện chưa ai viết. Xin hẹn với quí vị – và anh THC – tuần tới.


Chú thích


(*1) CTHÐ: Công Tử Hà Đông 




(*2) đường tu: Hoàng Hải Thủy ghi sai là "đương tu". Xem "Truyện Kiều chú giải":

1195. Kiếp xưa đã vụng đường tu,

1196. Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi.

(*3)  xót xaHoàng Hải Thủy ghi sai là "xót sa".

1793. Mày ai trăng mới in ngần,

1794. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa.




Nguồn: https://hoanghaithuy.wordpress.com/2011/09/02/vinh-kieu-tai-nguc/







Thursday, October 29, 2020

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê

 

Lấy ngữ pháp để giải thích Truyện Kiều [1] 


Người Việt Nam, hễ biết đọc, thì ai cũng đọc qua Truyện Kiều của Nguyễn Du, không biết đọc, cũng học truyền khẩu một vài đoạn để mà ngâm nga tiêu khiển. Nhưng hiểu nổi Truyện Kiều, hiểu từng câu từng chữ, dễ có mấy người! Truyện Kiều khó hiểu, không phải chỉ vì tác giả dùng nhiều điển cố, dịch nhiều từ ngữ Hán không thông dụng trong Việt ngữ [2] ; Truyện Kiều khó hiểu còn vì cách cấu tạo câu khác hẳn cú pháp thông thường [3] .


Vẫn biết rằng thi gia không bắt buộc phải theo cú pháp thông thường như khi ta nói hay viết văn xuôi. Thi ca cần có nhạc điệu, phải theo âm luật; số tiếng mỗi câu lại có hạn nhất định, nên thi gia tha hồ dùng phép đảo ngữ và phép lược ngữ. Tuy nhiên, ít ai dùng hai phép ấy nhiều như Nguyễn Du trong Truyện Kiều.


Đọc Truyện Kiều, đại đa số chỉ hiểu được đại ý, ít người hiểu được chính xác để có thể theo ngữ pháp mà phân tích từng câu từng đoạn trong truyện. Tất nhiên là muốn phân tích thì phải đặt lại những tiếng đảo trí theo thứ tự thông thường, và phải thêm vào những ý bị lược đi. Cái khó là ở đấy, cái khó là biết những tiếng nào đảo trí, những ý nào bị lược. Các sách có chú thích Truyện Kiều, chỉ chú thích về điển cố và từ ngữ, chứ chưa có sách nào chú thích về cú pháp.


Chúng ta hãy lấy mấy câu mở đầu trong Truyện Kiều:


Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.


Mấy câu ấy, ai cũng cho là dễ, ai cũng tưởng là mình hiểu. Thế mà sự thực thì lại khác, rất nhiều người chỉ hiểu được đại ý, chứ không hiểu được chính xác. Ấy cũng là vì không nhận định ra những tiếng đảo trí và những ý bị lược.


Trong sáu câu thơ trên, đáng chú ý nhất là câu thứ nhất và câu thứ tư.


Câu thứ nhất, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đã chú giải rõ ràng là lấy ở câu “Bách niên cảnh nhi ngã do vi nhân”, có nghĩa là “trong một cõi trăm năm mà ta vẫn là người”, tức là “trong cuộc đời người” (Sách đã dẫn, trang 55). Như vậy thì trong câu thơ “Trăm năm trong cõi người ta”, tác giả đảo trí từ kết trăm năm. Đặt lại theo thứ tự thông thường thì câu thơ ấy đổi ra: “Trong cõi trăm năm (của) người ta”, nghĩa là “trong đời người” hay gọn hơn nữa là “ở đời”.


Từ kết trăm năm đặt lên đầu câu, không phải là chủ đề để nhấn mạnh vào ý ấy [4] , mà chỉ vì luật bằng trắc trong phép làm thơ lục bát. Theo thi luật này thì trong câu lục tiếng thứ ta bấy giờ cũng là tiếng trắc, tiếng thứ nhì phần nhiều là tiếng bằng [5] . Vì thế mà viết “Trong cõi trăm năm người ta” tiếng thứ tư là bằng, tiếng thứ nhì là trắc, như vậy là sai luật. Vả lại, đọc lên, cũng thấy nhạc điệu không bằng “Trăm năm trong cõi người ta”. Tóm lại, tác giả phải đặt trăm năm lên đầu câu trước trong cõi, chỉ vì âm luật, chứ không phải có ý nhấn mạnh vào ý “trăm năm”.


Nay ta đọc những bản dịch ra Pháp văn, đều thấy dịch giả đặt ý “trăm năm” lên đầu câu, dường như có ý nhấn mạnh:


Nguyễn Văn Vĩnh [6] : “Cent années, dans cette limite de notre vie humaine”.


Réne Crayssac [7] : “Cent ans – le maximum d’une humaine existence!”.


M. R. [8] : “Cent ans, à peine, bornent notre eistance”.


Xuân Phúc và Xuân Việt [9] : “En cent ans, dans ces limites de l’humaine carrière”.


Câu thơ “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” rất nhiều người hiểu là “những điều trông thấy làm ta đau đớn lòng”, kể cả những dịch giả trên kia, nên đã dịch ra:


Nguyễn Văn Vĩnh: “Les choses que j’ai vues m’ont fait souffrir (ont endolori mon coeur)”.


Réne Crayssac: “Ce que l’observateur peut bien voir ne saurait qu’endolorir son coeur”.


M.R.: “Que de spectacles à briser mon coeur”.


Xuân Phúc và Xuân Việt: “Que de spectacles à frapper douloureusement le coeur!”.


Hiểu và dịch như trên thì từ kết những điều trông thấy là chủ từ của trạng từ đau đớn, trạng từ này là trạng từ trỏ tác động (verbe d’action), chứ không còn là trạng từ trỏ trạng thái tĩnh (verbe d’état) nữa, và phải coi là trong câu thơ lược có tiếng làm [10] .


Giá trong câu thơ không có tiếng mà thì ta có thể hiểu như trên được. Chính vì có tiếng mà, nên ta phải hiểu khác đi, nghĩa là không thể coi như lược tiếng làm, vì Việt ngữ không nói: “Những điều trông thấy mà làm đau đớn lòng”.


Theo chúng tôi, căn cứ vào cách dùng tiếng mà trong Việt ngữ [11] , ta có thể hiểu câu thơ theo hai lối sau:

Hoặc “Vì những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Hoặc “Trông thấy những điều xảy ra mà đau đớn lòng”.

Tiếng mà là trợ từ có công dụng phân cách hai ý có quan hệ nhân quả, bất luận là quan hệ về ý tứ hay quan hệ về cú pháp [12] , khi nào ý nguyên nhân đặt trước ý kết quả. Trong câu thơ “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, ý “những điều trông thấy” là nguyên nhân, ý “đau đớn lòng” là kết quả.


Hiểu theo lối thứ nhất (a), thì trong câu thơ lược tiếng vì (vì… mà): hai ý nhân quả có quan hệ chính thuộc về cú pháp, và tiếng vì là quan hệ từ nguyên nhân.


Hiểu theo lối thứ hai (b), thì hai ý nhân quả chỉ có quan hệ về ý tứ. Về phương diện cú pháp, hai ý “những điều trông thấy” và “đau đớn lòng”, không ý nào phụ thuộc ý nào; hai ý đẳng lập với nhau. Hiểu theo lối thứ nhất, chỉ lược có tiếng vì; nhưng hiểu theo lối thứ nhì, thì không những đảo trí từ kết những điều, mà còn lược ý “xảy ra”. Tại sao lại phải coi là có lược ý “xảy ra”? Theo ngữ pháp Việt Nam, tiếng những dùng làm lượng từ trỏ phức số (pluriel), chỉ đi với thể từ [13] có thêm bổ từ, chứ không thể đi với thể từ không có bổ từ [14] . Vì thế mà nói “những điều trông thấy” thì được (trông thấy là bổ từ của điều); nhưng không thể nói “trông thấy những điều”, (điều không có bổ từ), mà phải nói “trông thấy những điều xảy ra”, “trông thấy những điều ấy”, “trông thấy những điều vui”, “trông thấy những điều buồn” v.v… (xảy ra hay ấy, hay vui, buồn đều dùng làm bổ từ cho điều).


Tuy rằng có thể nói “những điều trông thấy”, mà theo lối (a) phải thêm tiếng vì, là tại “vì những điều trông thấy mà ta đau đớn lòng” là một câu đơn “phrase simple”; trong câu đơn ấy tổ hợp những điều trông thấy là từ kết dùng làm bổ từ nguyên nhân. Và bắt buộc phải có quan hệ từ nguyên nhân vì. Còn theo lối (b), không có quan hệ từ nguyên nhân, câu “(Ta) trông thấy những điều (xảy ra) // mà (ta) đau đớn lòng” là câu phức (phrase composée) có hai cú đẳng lập (proposition indépendantens) về cú pháp, mặc dầu về ý tứ hai cú [15] có quan hệ nhân quả.


Trong sáu câu thơ đầu Truyện Kiều ta đã kể trên, câu thơ thứ hai “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” không có gì phải chú ý. Câu thơ thứ ba “Trải qua một cuộc bể dâu” là một cú lược chủ từ, nhưng phép lược này rất phổ thông trong lời nói thông thường [16] . Trong câu thứ tư, “đau đớn lòng” cũng lược ý chủ từ.


Câu thơ thứ sáu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” có đảo trí từ kết má hồng: “Trời xanh quen thói đánh ghen (với) má hồng”.


Câu thơ thứ năm “Lạ gì bỉ sắc tư phong” là một cú lược chủ từ, nhưng đáng chú ý hơn là từ kết "lạ gì" diễn tả ý phủ định mà không dùng phó từ phủ định: lạ gì = không lạ gì.


Lối nói, diễn tả ý phủ định mà không dùng tiếng phủ định, là do một tư thức (figure de pensée), môn tu từ học gọi là hư vấn (interrogation apparente), mà ra. Hư vấn là phép nói, đặt ra câu hỏi, mà thực ra không phải là để đợi trả lời. Tỉ dụ, ca dao có câu “Trong đầm gì đẹp bằng sen?”, hình thức là câu hỏi đấy, mà thực ra diễn tả bằng hư vấn mạnh hơn lối diễn tả thường, có dùng tiếng phủ định. Do đấy mà câu phủ định hàm thêm ý bất định (trong câu có cùng tiếng bất định như ai, gì, chi, nào, đâu, sao, bao…) hay ý bất khả năng, rất hay lược tiếng phủ định [17] . Phép hư vấn hay dùng nhiều trong Truyện Kiều, ta hãy dẫn ra vài tỉ dụ:


Một dây một buộc, ai giằng cho ra. 1288 [18]

(ai = không ai)


Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình. 1542

(tốt chi = không tốt chi)


Mặt nào trông thấy nhau đây. 2531

(mặt nào = không còn mặt nào)


Trông vời cố quốc biết đâu là nhà. 1783

(biết đâu = không biết đâu)


Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. 750

(kể làm sao xiết = không kể làm sao xiết)


Biết bao công mướn của thuê. 2827

(biết bao = không biết bao)


Dẫu thay mái tóc, dám dời lòng tơ. 552

(dám = không dám)


*


Dùng phép đảo ngữ, Nguyễn Du rất hay đặt thuật từ trước chủ từ [19] . Dưới đây là một số tỉ dụ trích ở mấy trang đầu trong Truyện Kiều:


Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. 42

Gần xa nô nức yến anh. 45

Dập dìu tài tử giai nhân. 47

Sè sè nấm đất bên đường. 57

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. 58

Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. 64

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. 66

Sau chân theo một vài thằng con con. 138

Ngổn ngang trăm mối bên lòng. 183

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng. 239

Vắng nhà, được buổi hôm nay. 387


Câu đầu, đặt theo dùng vị trí từ tiếng, đổi ra: “Một vài bông hoa điểm trắng cành lê…”. Câu cuối thông thường nói: “Được buổi hôm nay nhà vắng”.


Trong câu thơ dưới đây:


Mai cốt cách, tuyết tinh thần. 17


Không những đảo trí thuật từ, mà còn lược trạng từ là tiếng chính trong thuật từ. Ta hiểu câu thơ trên là “Cốt cách như mai, tinh thần như tuyết”, cũng như Nguyễn Du đã viết trong một câu thơ khác:


Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai. 638


Nói đến lược ý trạng từ chính trong thuật từ, chúng tôi muốn dẫn thêm hai tỉ dụ:


Ngày xuân con én đưa thoi. 39

Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. 72


Câu trên, ta hiểu là “Ngày xuân đi nhanh như con én đưa thoi”, và câu dưới là “Dấu chân xe ngựa có có (hay: đã phủ) rêu lờ mờ xanh” [20] . Có chỗ, tác giả Truyện Kiều đã lược ý trạng từ chính trong thuật từ, còn lược ý cả chủ từ, như:


Làn thu thủy, nét xuân sơn. 25


ta hiểu là “Mắt như làn thu thủy, lông mày như nét xuân sơn” (dịch Nhỡn như thu thủy, mi tự xuân sơn) [21] . Nguyễn Du dùng rất nhiều điển cố, dịch rất nhiều thành ngữ của Trung Hoa, cho nên không căn cứ vào xuất xứ, rất khó phân tích một số lớn câu thơ trong Truyện Kiều. Một tỉ dụ nữa là câu:


Một hai nghiêng nước nghiêng thành. 27


Dịch đại ý câu Hán văn “Nhất cố khuynh nhân thành, tài cố khuynh nhân quốc” [22] .


*


Hiện nay, tại các trường, lấy Truyện Kiều làm đề tài giảng văn, giáo sư chỉ giảng về điển cố, về từ ngữ, giảng bút pháp của tác giả, cùng là triết lý trong truyện. Nêu giảng thêm về cú pháp, cho học sinh và sinh viên hiểu được chính xác hơn, không những sẽ gây được hứng thú trong lớp, mà học sinh và sinh viên sẽ biết thêm cái tế nhị của tiếng Việt [23] .


Đầu bài này, chúng tôi đã viết rằng chưa có cuốn sách nào chú thích Truyện Kiều về cú pháp. Thực ra, một công trình như vậy, không phải là việc của một hai người có thể làm nổi, mà cần có một tập thể chừng mươi người cùng nhau hội họp luôn luôn để trao đổi ý kiến thì mới mong có kết quả được.


Dù làm tập thể, công việc cũng rất khó khăn, vì trong truyện có nhiều câu ngay về đại ý ta cũng chỉ hiểu lờ mờ thôi. Không hiểu được đích xác, không phải chỉ vì có nhiều tiếng đảo trí, có nhiều ý bị lược, như chúng tôi đã nói ở trên, mà chính vì có nhiều từ ngữ thông dụng về thời Nguyễn Du mà hiện nay không còn dùng nữa, nên ta chỉ có thể đoán được nghĩa mà thôi.


Lại còn nhiều tiếng hiện còn thông dụng, mà Nguyễn Du dùng theo nghĩa khác hẳn nghĩa ta hiểu ngày nay. Dưới đây, chúng tôi dẫn hai tỉ dụ, một về tiếng sao; một về tiếng nhau.


Khi nàng Kiều đắc thế, báo ân trả oán, ra lệnh:


Thề sao thì lại cứ sao gia hình. 2388


Sao có nghĩa là “thế nào”, cũng như vậy có nghĩa là “thế ấy”. Sao và vậy là hai tiếng hô ứng, và ngày nay thì ta nói: “Thề sao thì cứ vậy mà gia hình”. Chẳng lẽ về thời Nguyễn Du tiếng sao có nghĩa là “vậy”?


Tỉ dụ thứ hai là tiếng nhau. Hiện nay, ta hiểu tiếng nhau hàm ý giao hỗ, hay là trỏ nhiều người, nhiều vật cùng làm một việc, cùng có một tính chất, như “Chúng nó đánh nhau”, – “Hai cái xe đụng nhau”, – “Hai người đẹp như nhau”, – “Hai cái nhà cao bằng nhau”. Ngoài nghĩa trên, nhau còn dùng để trỏ chính người nói, tỉ dụ:


Nào thầy, nào bạn đi đâu tá,

Bỏ chết nhau đây, chẳng giúp cùng.

(Khuyết danh)


Cái khó theo nhau mãi thế thôi,

Có ai hay chỉ một mình tôi.

(Từ Diễn Đồng)


Nó bỏ nhau đi lúc vắng nhà. (Nguyễn Thiện Kế)


Trong Truyện Kiều, ta cũng thấy dùng tiếng nhau theo nghĩa vừa dẫn trên. Như khi Kiều tiễn chân Thúc Sinh về quê, nói:


Thương nhau, xin nhớ lời nhau. 1515


thì cả hai tiếng nhau đều trỏ Kiều. Kiều bảo Thúc Sinh: “Chàng thương tôi, xin nhớ lời tôi”, và lời nhau là lời Kiều căn dặn Thúc Sinh về nhà nên “nói sòng cho minh” với Hoạn Thư. Lại như khi Đạm Tiên lần thứ nhất báo mộng cho Kiều, nói:


Hàn gia ở mái tây thiên, 195-198

Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.

Mấy lòng hạ cố đến nhau,

Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.


thì tiếng nhau cũng trỏ có một mình Đạm Tiên.


Nhưng, trong Truyện Kiều, có chỗ Nguyễn Du dùng tiếng nhau, không khỏi làm cho ta bỡ ngỡ; như khi Giác Duyên thuật lại việc cứu nàng Kiều, có đoạn:


Khi nàng gieo ngọc trầm châu, 2987-2989

Đón nhau, tôi đã gặp nhau, rước về;

Cùng nhau nương cửa Bồ Đề…


Tiếng nhau thứ ba trỏ cả Giác Duyên lẫn Kiều (hai người cùng nhau nương cửa Bồ Đề), đúng như nghĩa thứ nhất ở trên (hai người cùng làm việc gì). Nhưng hai tiếng nhau trên (đón nhau, gặp nhau), không trỏ Giác Duyên và Kiều, cũng không trỏ một mình Giác Duyên và Thuý Kiều, cũng không trỏ một mình Giác Duyên là người thuật chuyện (theo nghĩa thứ hai), mà trỏ một mình nàng Kiều là đệ tam nhân. Hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy cách dùng tiếng nhau như vậy trong sách khác.


Công việc dù khó khăn, mà người yêu Truyện Kiều, nói chung là yêu tiếng Việt, không phải là hiếm. Cho nên chúng tôi vẫn dám mong, chẳng sớm thì muộn, thế nào cũng có nhiều nhà thiện chí đứng ra làm công việc chúng tôi rất mong đợi.


[1]Bài này đã dịch ra Pháp văn, đăng trong đặc san số 59, 1966, của Trường Bác cổ Viễn đông (École Française d’Extrême Orient), xuất bản để kỷ niệm đệ nhị bách chu niên ngày sinh nhật tác giả Truyện Kiều. Nay chúng tôi sửa lại và thêm một vài đoạn cống hiến độc giả Văn.

[2]Tỉ dụ trong hai câu thơ này:

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.

Những từ ngữ: chén hà, dải là, bình gương, dịch ở hà bôi, la đái, kính bình (x. Truyện Thuý Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo và chú thích, Tân Việt, Sài Gòn, in lần thứ tư, tr. 82).

[3]Cú pháp, xin hiểu theo nghĩa là phép xếp đặt tiếng lẻ để cấu tạo thành câu nói, tương đương với tiếng Pháp syntaxe.

[4]Về quan niệm “chủ đề”, xem Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, 1963, từ tr. 529 (ở dưới sẽ viết tắt là KLVNPVN). Chúng tôi xin dẫn một tỉ dụ. Nói “Tôi gửi thư rồi”, đó là câu nói thường, không có chủ đề. Nhưng, nói “Thư, tôi gửi rồi”, thì tiếng thư giữ chức vụ chủ đề trong câu, trước chủ từ là tôi.

Đọc cả câu: “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, thì thấy không có lý gì để nhấn mạnh vào ý “trăm năm”.

Từ kết = groupe de mots, KLNPVN, tr. 190.

[5]Trần Trọng Kim, Việt Nam văn phạm, in lần thứ 7, Tân Việt, Sài Gòn, tr. 164.

[6]Nguyễn Văn Vĩnh, Traduction en français avec notes et commentaires du Kiều de Nguyễn Du (Grand poème populaire Vietnamien), Vĩnh Bảo – Hoành Sơn, Sài Gòn, 1951.

[7]Réné Crayssac, Kim Vân Kiều, le célèbre poème annamite de Nguyễn Du, traduit en vers Français, Lê Văn Tân, Hà Nội, 1926.

[8]M. R., Kim Vân Kiều, nouvelle traduction Française, Ed. Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1944.

[9]Xuân Phúc et Xuân Việt, Kim Vân Kiều traduit du Vietnamien, Connaissance de l’Orient, Collection UNESCO d’oeuvres représentatives, Galimard, Paris, 1961.

[10]Trạng từ: x. KLNPVN từ trang 156. Tiếng làm dùng để đổi trạng từ tĩnh thành trạng từ tác động, x. KLNPVN, trang 415, 421.

[11]KLNPVN, từ trang 608.

[12]Quan hệ về ý tứ và quan hệ về cú pháp: KLNPVN, tr. 484.

[13]Thể từ (substantif), các sác ngữ pháp cũ gọi là danh từ: KLNPVN, từ tr. 153.

[14]KLNPVN, tr. 348.

[15]Xem KLNPVN, tr. 479 vì sao chúng tôi dùng cú mà không dùng mệnh đề để dịch tiếng proposition.

[16]KLNPVN, từ tr. 509.

[17]Cũng xem: Nguyễn Hiến Lê và Trương Văn Chình, Tiếng đâu trong Truyện Kiều, số đặc biệt Văn, kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du, số 43, 1-10-1965. – Bài này cũng đã dịch ra Pháp văn, và đăng trong đặc san dẫn trên của Trường Bác cổ Viễn đông (xem lời chú 1).

[18]Số thứ tự trong các câu thơ theo Truyện Thuý Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim.

[19]Chủ từ và thuật từ: KLNPVN từ tr. 495. – Chủ từ và thuật từ thường là từ kết gồm tiếng chính và các gia từ; như trong câu “Các bọn thượng lưu xứ Ai Cập đời bấy giờ / lãng phí sinh mệnh kẻ lao động một cách rất dữ quá” (Phạm Quỳnh), từ kết các bọn…bấy giờ là chủ từ, và từ kết lãng phí… dữ quá là thuật từ.

[20]Chúng tôi thảo luận với nhiều bạn, có người muốn hiểu câu thơ “Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh”, là “Ở trên dấu xe ngựa rêu đã lờ mờ xanh”, tức là coi có đảo trí tiếng đã. Chúng tôi không đồng ý, nhưng cũng viết ra đây để rộng đường dư luận.

[21]Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 56.

[22]Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 57

[23]Chúng tôi đã thử giảng như vậy trong một buổi học thì thấy kết quả mỹ mãn.


Nguồn: Tạp chí Văn, Nghiên cứu và Phê bình văn học, năm thứ nhất, đệ tứ tam cá nguyệt 1967, tập 3. Chi phiếu, bưu phiếu đề tên ông Nguyễn Đình Vượng. Thư từ, bản thảo, ấn phẩm đề tên ông Trần Phong Giao. Giao thiệp trực tiếp về mọi việc xin hỏi ông Gia Tuấn. Số 38, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Điện thoại: 23.595. Giá 30 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

https://123hoang.wordpress.com/sach/tạp-chi-van-số-dặc-biệt-tưởng-niệm-nguyễn-du/lấy-ngữ-phap-dể-giải-thich-truyện-kiều-1-trương-van-chinh-va-nguyễn-hiến-le/



Ghi chú

Blogger đăng lại bài này đã sửa vài lỗi sao chép như sau:

"/" đọc là "thay vì".

Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng/Mấy lời từ ném chấu gieo vàng

Sau chân theo một vài thằng con con/Say chân theo một vài thằng con con

Những từ ngữ: chén hà, dải là, bình gương, dịch ở hà bôi, la đái, kính bình/Những ngữ: chén hà, dải là, bình gương, dịch ở hà bôi, la đái, kinh bình

từ kết "lạ gì" diễn tả ý phủ định/tứ kết lạ gì diễn tả ý phủ định

[4]Về quan niệm “chủ đề”, xem Trương Văn Chình/[4]Về quan niệm “chủ đề”, xem Trương Văn Chính









Tuesday, October 13, 2020

saromalang.com/2017/12/hototogisu.html

 

1307 Dưới trăng quyên đã gọi hè, 
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông










Monday, September 21, 2020

youtube Truyện Kiều

 #TruyenKieu #NguyenDu #Nhungangthohay 


Phần 1: Kiều thăm mộ Đạm Tiên


Phần 2: Kiều gặp Kim Trọng

Phần 3: Kiều bán mình chuộc cha

Phần 4: Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh


Phần 5: Kiều mắc lừa Sở Khanh


Phần 6: Kiều gặp Thúc Sinh


Phần 7: Kiều và Hoạn Thư


Phần 8: Kiều gặp Từ Hải


Phần 9: Kiều báo thù


Phần 10: Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến


Phần 11: Kim Trọng đi tìm Kiều


Phần cuối: Kiều và Kim Trọng đoàn tụ