Monday, October 5, 2015

Từ điển truyện Kiều


A B C Ch D Đ E G Gi H I K L M N Ng Nh O P Q R S T Th Tr U V X Y  



A
(0406) ả Tạ: Tức Tạ Đạo Uẩn đời Đông Tấn, cháu gái Tạ An, thông minh tài biện, giỏi làm thơ. 
(0426) ác: chỉ mặt trời. Xem chú thích ác tà 0073-0084.
(0079) ác tà: mặt trời chiều. Tương truyền trên mặt trời có con quạ (còn gọi là con ác) ba chân, nên gọi kim ô (ác vàng) là mặt trời. 
(0415) anh hoa : vẻ đẹp của cây cỏ. Ở đây chỉ tinh hoa. Lễ Kí : Hòa thuận tích trung, nhi anh hoa phát ngoại , (Nhạc kí ) Hòa thuận chứa bên trong, thì tinh hoa hiện ra ngoài.
(0113) âm khí: hơi khí u ám ảm đạm. Thử nãi hoang mộ, âm khí ngưng trọng, bất nghi cửu tọa, khứ liễu ba : , , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) (Vương Quan nói:) Chỗ này là mồ bỏ hoang, hơi khí u ám nặng nề, không nên ở lâu, về đi thôi. 
<Home>

B
(0282) ba sinh: xem chú thích câu 0253-0264
(0248) ba thu dọn lại một ngày: Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề , (Thi Kinh, Vương Phong, Thái cát ) Một ngày không thấy nhau lâu bằng ba mùa thu. 
(0096) bả cỏ: tục cổ nắm bó cỏ làm lễ viếng mồ. 
(0357) bả quạt hoa quỳ: quạt vẽ hoa quỳ (Thúy Kiều lấy quạt tặng cho Kim Trọng). 
(0034) bạc mệnh: số mạng mỏng manh, nghĩa là không tốt. Tô Thức : Tự cổ giai nhân đa bạc mệnh (Bạc mệnh giai nhân ) Từ xưa những người đẹp phần nhiều có số phận mỏng manh. Thúy Kiều tự soạn ra một bài nhạc đặt tên là thiên Bạc mệnh. 
(0108) bạc mệnh:  xem chú thích bạc mệnh 0025-0036.
(0332) băng tuyết : trong sạch, trinh khiết (như giá tuyết). 
(0319) bậc mây: bởi chữ vân giai . Hương phong dẫn đáo đại la thiên, Nguyệt địa vân giai bái động tiên , (Ngưu Tăng Nho , Chu Tần hành kỉ ) Gió thơm dẫn tới trời Đại La (cõi trời cao nhất, tức là cõi tiên), Lấy mặt trăng làm đất, lấy mây làm bậc đến lễ động tiên. Ở đây chỉ cảnh trời. Cũng tỉ dụ chỉ nơi có cảnh vật xinh đẹp. 
(0012) bậc trung: gia kế thường thường, không dồi dào cũng không túng kém. 
(0003) bể dâu: biển xanh biến thành ruộng dâu, ý nói việc đời biến đổi rất nhiều. Thần tiên truyện : Ma Cô tự thuyết vân: Tiếp thị dĩ lai, dĩ kiến đông hải tam vi tang điền , Ma Cô nói rằng: Cho đến nay đã thấy biển đông ba lần hóa ra ruộng dâu. 
(0374) biện: sửa soạn. 
(0454) bình gương: bởi chữ kính bình tấm bình phong lồng kính (thủy tinh).
(0005) bỉ sắc tư phong: phong vu bỉ sắc vu thử (luật tạo hóa) hơn cái này thì kém cái kia. 
(0177) bóng nga: chỉ mặt trăng. Xem chú thích gương nga 0169-0180 . Ghi chú: bản chữ Nôm khắc là Tố Nga. Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "bóng nga" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
(0161) bóng hồng: bóng người đẹp. 
(0438) bóng trăng đã xế hoa lê lại gần: Tây Sương Kí 西: Nguyệt di hoa ảnh, nghi thị ngọc nhân lai , (Đệ tứ bổn, Đệ nhất chiết) Ánh trăng xê dịch bóng hoa, ngờ là có người đẹp đi tới.
(0100) bốn câu ba vần: bài thơ tứ tuyệt.
(0291) buông cầm: đặt cây đàn xuống. 
(0157) buồng thêu: bởi chữ tú phòng , chỉ chỗ ở của đàn bà con gái. Ghi chú: chữ Nôm trong bản này đúng ra phải đọc là "buồng điều". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "buồng thêu" theo nhiều bản Nôm quen thuộc khác. 
(0397) bút giá thư đồng : giá đựng bút và hộp đựng sách. Ghi chú: Có bản Nôm ghi là: bút giá thi đồng giá đựng bút và ống đựng thơ. 
(0204) bút hoa: mộng bút sinh hoa ; Lí Bạch lúc còn nhỏ mộng thấy ngọn bút nở ra hoa, sau trở thành một thi nhân trứ danh đời Đường. 
(0250) bụi hồng: bởi chữ hồng trần cảnh phồn hoa náo nhiệt.
<Home> 

C
(0062) ca nhi : con hát.  
(0217) canh chầy: canh muộn, canh khuya.
(0008) cảo thơm: pho sách hay, do chữ phương cảo 稿(0212) cầm: chữ khắc trong bản Nôm thường đọc âm là "ở". Chữ này có dạng gần giống chữ Nôm (+) đọc là "cầm". Nên tạm ghi âm Quốc Ngữ là "cầm" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
(0463) cầm đài : chỗ ngồi gảy đàn. Cũng chỉ chỗ Tư Mã Tương Như thời Hán ngồi gảy đàn cho nàng Trác Văn Quân nghe. Người đời sau đặt tên chỗ ấy là Cầm Đài.
(0467) cầm trăng: đàn nguyệt, bởi chữ nguyệt cầm
(0137) câu giòn: câu là ngựa con, giòn nghĩa là đẹp (theo Bùi Kỷ & Trầ)n Trọng Kim).
(0204) câu thần: câu văn hay như thần thánh làm ra.
(0142) cây quỳnh cành dao: Vương Diễn thần tư cao triệt, như dao lâm quỳnh thụ 姿, (Tấn Thư , Vương Nhung truyện ) Vương Diễn thần thái dáng người tuấn tú cao xa, như rừng dao cây quỳnh. Chỉ người cao đẹp xuất chúng. 
(0457) cầu Lam: xem chú thích Lam kiều 0265-0276. 
(0036) cập kê : cài trâm. Con gái bên Trung Quốc thời xưa đầy mười lăm tuổi thì búi tóc cài trâm, tức là tới tuổi thành niên. Về sau gọi con gái đủ tuổi lấy chồng là cập kê. 
(0097) cỏ áy: cỏ úa vàng.  
(0041) cỏ non xanh tận chân trời: phương thảo bích liên thiên
(0138) cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời: áo màu xanh lam. 
(0132) cổ thi : thơ làm theo lối xưa (cổ thể). Bài thơ đề của Thúy Kiều (trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân) có hai câu cuối như sau: Bất đoạn hương hồn xứ, Thương thương kịch ấn đài , 蒼屐 Chẳng dứt hương hồn đó, Rêu xanh in dấu giày.
(0120) cuốn cờ: Vương Quan dữ Thúy Vân thậm thị kinh hoảng. Na phong quyển đáo Thúy Kiều thân biên, chu thân tam táp, thúc nhiên nhi tán . , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) Vương Quan và Thúy Vân hết sức hoảng sợ. Trận gió cuốn đến bên mình Thúy Kiều, xoay quanh ba vòng, rồi vụt tản đi mất.  
<Home>
 
Ch
(0320) chẳng nhe: bản Nôm khắc là "chẳng sai". Như thế không vần với câu sau. Tạm thời ghi âm Quốc Ngữ là "chẳng nhe", theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0082) châu sa: giọt nước mắt chảy xuống. Theo sách Sưu thần kí , ở ngoài bể Nam Hải, có người sống trong nước như cá gọi là giao nhân , khi khóc những giọt nước mắt rớt ra hóa thành ngọc châu.  
(0104) châu sa: xem chú thích châu sa 0073-0084. 
(0457) chày sương: chỉ cái chày ngọc để giã thuốc trong sự tích về cầu Lam.
(0453) chén hà: bởi chữ hà bôi chén đựng rượu ngon. 
(0173) chênh chếch: theo chữ Nôm phải đọc là "vành vạnh". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "chênh chếch" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0444) chiêm bao: giấc mơ. Tây Sương Kí 西: Thẩm vấn minh bạch, chỉ nghi thị tạc dạ mộng trung lai , (Đệ tứ bổn, Đệ nhất chiết). Nhượng Tống dịch thơ: Lẽ nào nhìn thấy rõ ràng, Lại là trong giấc mơ màng gặp nhau.
(0348) chiều xuân: bởi chữ xuân tứ , tức là mối tình, tình tự ngày xuân. Ở đây chỉ mối tình chớm nở trong lòng Thúy Kiều. Xuân Phúc dịch sang tiếng Pháp là "éveil de l'amour" (Nguyễn Du, Kim Vân Kiều, Editions Thanh Long, 1986, Belgique).
(0333) chỉ hồng: bởi chữ xích thằng , ý nói nhân duyên vợ chồng đều có định trước. Tương truyền Vi Cố đi kén vợ, gặp một ông già coi sách dưới trăng, bảo đó là hôn thư. Cứ theo sách ghi, ông già lấy chỉ đỏ buộc chân những người phải lấy nhau. Ông già nói Vi Cố sẽ lấy một đứa con gái nhà nghèo hèn. Vi Cố không muốn, tìm cách giết đi, nhưng sau vẫn lấy đúng người này làm vợ (Lí Phục Ngôn , Tục u quái lục , Định hôn điếm ). 

(0158) chốc mòng: bấy lâu nay. 
(0266) chim xanh: bởi chữ thanh điểu , chim thần sứ giả của Tây Vương Mẫu. Bồng lai thử khứ vô đa lộ, Thanh điểu ân cần vị thám khan , (Lí Thương Ẩn , Vô đề ) Muốn tới Bồng Lai nhưng không có nhiều lối, Nhờ chim xanh vì ta ân cần thăm dò. 
(0166) chỉn khôn: cũng khó. 
(0452) chữ đồng: bởi chữ đồng tâm kết . Ngày xưa dùng dải lụa thắt lại biểu thị tình cảm hai bên gắn bó.
(0464) Chung Kì: xem chú thích tri âm 0385-0396. 
<Home>

D
(0454) dải the: có bản chép là "dải là", bởi chữ la đái dải áo dệt bằng là. 
(0136) dặm băng: hốt kiến nhất thư sinh, phiêu cân thải phục, kị mã viễn viễn nhi lai , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) bỗng thấy một thư sinh, khăn áo phấp phới, cưỡi ngựa từ xa lại. 
(0141) dặm xanh: lối đi có mọc cỏ xanh.  
(0114) dặm về: theo mặt chữ Nôm ở đây đọc là "dặm hòe" có phần đúng âm hơn, vì chữ Nôm thứ hai là chữ "hòe" . Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dặm về" theo nhiều bản Nôm khác quen thuộc xưa nay. 
(0330) dấu bèo: bởi chữ bình tung , nghĩa là hành tung vô định, phiêu bạc khắp nơi như cánh bèo trôi nổi. Ở đây là lời nói khiêm.
(0272) dẫy thềm: đầy thềm. 
(0173) dòm: theo chữ Nôm phải đọc là "từ". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dòm" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0277) du học: bản Nôm khắc phải đọc là "đạo học". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "du học", theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0409) dung quang : nét mặt, dáng vẻ. Ghi chú: Nhiều bản Nôm chép là: "Trộm liếc dung quang". 
(0257) duyên nợ ba sinh: duyên số đã định từ trước. Tương truyền vào đời Đường, Lí Nguyên làm bạn với sư Viên Quan . Viên Quan lúc sắp chết hẹn với Lí Nguyên mười hai năm sau sẽ gặp lại nhau tại chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu. Lí Nguyên đúng hẹn đến trước chùa và thấy một mục đồng ca rằng: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, ..., Thử thân tuy dị tính trường tồn 舊精, ..., , nghĩa là: Ba đời trên đá ghi dấu tinh hồn cũ, ..., Thân này dù khác nhưng bổn tính mãi còn. Lí Nguyên biết mục đồng chính là Viên Quan (Viên Giao 袁郊, Cam trạch dao , Quyển ngũ , Viên Quan ). 
(0169) dưới dòng: theo chữ Nôm phải đọc là "dưới khe". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dưới dòng" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.  
(0290) dưới đào dường có: bản Nôm khắc là "dưới đào sai có". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dưới đào dường có", theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.  
<Home>

Đ
(0351) đa mang: nhiều việc bận rộn.
(0363) đá biết tuổi vàng: thử vàng bằng đá biết được độ vàng thuần chất bao nhiêu phần. Ở đây ý nói biết rõ lòng nhau. 
(0352) đá vàng: bởi câu kim thạch chi ngôn tỉ dụ lời nói chân thành bền chặt như vàng như ngọc.  
(0330) đài gương: bởi chữ kính đài chỗ đặt gương soi để chải tóc trang điểm của đàn bà. Ở đây là tiếng tôn xưng người đẹp. 
(0446) đài sen: bởi chữ liên đài (liên hoa đài viết tắt), tức là đài hình hoa sen để thắp nến. Chỉ đài thờ Phật.
(0192) đào nguyên : nguồn đào. Theo bài Đào hoa nguyên kí của Đào Tiềm đời Tấn: Có người đánh cá ở Vũ Lăng theo dòng suối đi mãi vào tới rừng hoa đào, gặp người lánh nạn từ đời Tần ở trong ấy. Ý nói đến cảnh thần tiên. 
(0398) đạm thanh: bản Nôm ở đây khắc là đạm tình . Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là đạm thanh (/), theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0044) đạp thanh : xem chú thích thanh minh 0037-0048. 
(0324) đã chồn: đã mỏi, đã nhọc lòng.  
(0425) đầy gang: bản Nôm ở đây khắc là "thủ gang". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "đầy gang" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
(0137) đề huề: mang, xách. 
(0439) đỉnh Giáp: bởi chữ Vu Giáp hay Vu Sơn . Thời Chiến Quốc, hai vua Sở Hoài Vương và Tương Vương đều đi chơi Cao Đường, nằm mộng thấy thần nữ ở Vu Sơn đến cùng chăn gối (Tống Ngọc , Thần nữ phú , Tự ). 
(0200) đoạn trường : đứt ruột. Ý nói đau lòng như đứt ruột. Sổ đoạn trường là sổ kê tên những người phải chịu oan nghiệp khổ sở. 
(0231) đoạn trường: xem chú thích 0193-0204. 
(0028) đòi một ... họa hai: sắc đẹp như Thúy Kiều chỉ có một, tài năng như nàng may ra có được người thứ hai. 
(0175) đông lân: chỉ hàng xóm, láng giềng. Bởi chữ đông lân tây xá 西. gương nga: xem chú thích bóng nga ở dưới. chênh chếch: theo chữ Nôm phải đọc là "vành vạnh". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "chênh chếch" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0160) đố lá: có thuyết cho là trò chơi ngày xưa người ta hái hoa lá đem ra hỏi, thi đua với nhau. 
(0154) đồng thân: cũng như đồng song cùng cửa sổ, tức là bạn học. Vương Quan nhận đắc thị song hữu Kim Trọng (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) Vương Quan nhận ra là Kim Trọng, một bạn đồng song với mình. 
(0285) đồng tỏa nguyên phong: Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: Trong một chỗ gần bằng một gang, một tấc, mà cái khóa đồng cứ khóa mãi, không thấy người nào vào ra cả. 
(0391) động đào: động tiên, cõi tiên. Xem chú thích đào nguyên 0181-0192. 
(0039) đưa thoi: nhật nguyệt như thoa ngày tháng như thoi đưa. 
(0178) đường gần: bản Nôm khắc là "đường xa". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "đường gần" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
<Home>

E
(0037) êm đềm: theo mặt chữ Nôm ở đây đọc là "êm niềm" có phần đúng âm hơn, vì thành phần bên mặt của chữ Nôm thứ hai là chữ "niệm" . Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "êm đềm" theo nhiều bản Nôm khác quen thuộc xưa nay.  
<Home>

G
(0172) gác núi: theo chữ Nôm phải đọc là "đến đất". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "gác núi" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0256) gây: chữ Nôm ở đây lẽ ra phải đọc là "lây". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "gây" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
(0378) gót sen: xem chú thích sen vàng 0181-0192. 
(0388) gọi chút: nhắc tới mấy món ăn thức uống Thúy Kiều đem ra mời Kim Trọng nhân lúc gặp mặt (theo phong tục người Trung Quốc thời xưa). Xem chú thích thời trân 0373-0384. 
(0173) gương nga:  chỉ mặt trăng. Bởi chữ Tố Nga , là vợ Hậu Nghệ 羿, uống trộm thuốc trường sinh bất tử của chồng, bay lên cung trăng thành tiên. Còn gọi là Thường Nga , Hằng Nga
<Home>

Gi
(0010) Gia Tĩnh : Niên hiệu vua Thế Tông nhà Minh (1522-1566).
(0419) giải cấu: xem chú thích giải cấu tương phùng 0157-0168. 
(0159) giải cấu tương phùng : không hẹn mà gặp. 
(0421) giải kết : "giải" nghĩa là cởi, "kết" nghĩa là buộc. Tản Đà ghi chú: Trong bản của ông Hồ Đắc Đàm dẫn câu cổ thi: Thương thiên nhược giải đồng tâm kết, kim thạch vi minh ngã dữ quân , , nghĩa là: "Ông trời xanh dù có cởi cái cái mối buộc đồng tâm nữa, thời cái lời thề vàng đá, ta cũng giữ với mình."
(0437) giấc hòe: Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm mơ được vinh hoa phú quý trong ba mươi năm ở Hòe An quốc , tỉnh giấc, chén thừa còn đó, nhìn thấy tổ kiến ở dưới cành nam cây hòe, chính là quận Nam Kha trong mộng (Lí Công Tá , Nam Kha thái thú truyện ). Về sau người ta lấy Hòe An mộng để tỉ dụ đời người như giấc mơ, phú quý được mất vô thường.
(0403) gió táp mưa sa: mạnh mẽ như gió đập mưa rơi. Nguyên truyện: Thúy Kiều tửu nùng tình khoái, thi hứng bột nhiên , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) Thúy Kiều rượu nồng ý thích, hứng thơ phấn khởi. 
<Home> 

H
(0372) hai đường: chỉ cha mẹ. 
(0011) hai kinh: chỉ Bắc Kinh và Nam Kinh (nhà Minh).
(0430) hai thân: cha mẹ. 
(0141) hài văn: giày thêu.  
(0175) hải đường : tên khoa học Malus floribunda, là một danh hoa truyền thống Trung Quốc, có nhiều loại rất đẹp, xưa nay các văn nhân mặc khách đề vịnh bất tuyệt. Văn hào Tô Đông Pha có viết: Chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ, Cố thiêu cao chúc chiếu hồng trang , (Hải Đường ) Đêm thâu chỉ ngại hoa yên giấc, Nâng đuốc soi hoa tỏ mặt hường (VP dịch). Cổ nhân còn gọi hoa hải đường là "đoạn trường hoa", mượn hoa tả tình cảm buồn thương li biệt. 
(0195) hàn gia : lời nói khiêm, chỉ nhà của mình. Cũng như nói: tệ xá, tệ cư, hàn môn, v.v.
(0393) hàn huyên : lạnh ấm, chỉ lời thăm hỏi nhau khi gặp mặt. Cũng nói là: hàn ôn, huyên lương.  
(0152) hào hoa : giàu có, đường hoàng. 
(0197) hạ cố : đoái tới, trông xuống. 
(0198) hạ tứ : ban cho kẻ dưới.  
(0118) hiển linh : dấu hiệu hoặc điềm triệu của quỷ thần hiện ra rõ rệt.
(0026) hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xinh: phù dung như diện liễu như mi (Bạch Cư Dị , Trường hận ca ) mặt như hoa phù dung, mày như lá liễu. 
(0219) hoa trôi bèo giạt: Bách niên thân thế nhất phù bình (Chân Sơn Dân , Thứ lí lâm cư xuân hiểu du viên ) Đời người trăm năm như cánh bèo trôi nổi. 
(0085) hóa công : thợ tạo hóa, chỉ ông trời có thể biến hóa muôn vật. Thiên địa vi lô hề, tạo hóa vi công , 造化 (Giả Nghị , Phục điểu phú ) Trời đất là lò, tạo hóa là thợ. 
(0032) hồ cầm : tên một nhạc khí cổ, đến từ các dân tộc phương bắc và tây bắc Trung Quốc, bắt đầu từ thời Tống, Nguyên. Có khi còn gọi là đàn tì bà.  
(0459) hồng diệp: xem chú thích lá thắm 0265-0276.
(0065) hồng nhan : má hồng, chỉ người đẹp.  
(0107) hồng nhan: xem chú thích hồng nhan 0061-0072.
(0035) hồng quần : quần màu đỏ, chỉ con gái đẹp.
(0199) hội chủ: chủ hội đoạn trường. 
(0306) Hợp Phố: Hợp Phố châu hoàn , nghĩa là ngọc trai (trân châu) trở về Hợp Phố, ý nói người đi rồi trở lại hoặc vật báu mất rồi tìm lại được. Điển tích: Quận Hợp Phố ở bờ biển sản sinh rất nhiều ngọc trai. Vì quan tể ở đó tham lam vô độ, bắt dân phải đi mò lấy ngọc trai đem nộp cho quan lại, bao nhiêu ngọc trai đều tự dời hết sang quận Giao Chỉ . Sau Mạnh Thường 孟嘗 làm thái thú Hợp Phố, có nhân chính, những ngọc trai lại trở về (Hậu Hán Thư, Mạnh Thường truyện ).
(0155) hương lân : người cùng làng, láng giềng, hàng xóm. 
(0216) hương thừa: Lan xạ hương nhưng tại, bội hoàn thanh tiệm viễn , (Tây sương kí 西, Đệ nhất bổn) Mùi hương của hoa lan vẫn còn phảng phất, tiếng vòng ngọc đeo trên người xa dần. Nhượng Tống dịch: Hương lan còn thoảng, tiếng vàng đã xa.
(0300) hương trầm: tức trầm hương , thứ gỗ thơm, thường dùng làm hương liệu. Ghi chú: Gọi là "trầm" vì gỗ này bỏ trong nước sẽ chìm xuống. 
<Home>

I
(0124) in rêu: trong bản chữ Nôm khắc là "rêu in", như thế không vần với câu trên. 
<Home>

K
(0318) khăn là: khăn làm bằng lụa mỏng. 
(0283) khép cánh mây: bởi chữ yểm vân quan (Khổng Trĩ Khuê , Bắc sơn di văn 移文), nghĩa là: khép cửa mây.
(0296) khuê các : phòng đàn bà ở. Cũng gọi là: khuê phòng, hương khuê.
(0343) khuôn thiêng: chỉ trời, tạo hóa. Xem chú thích: hóa công 0085-0096.   
(0020) khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang: diện như mãn nguyệt, mi nhược ngọa tàm 滿, mặt như trăng tròn, lông mi như con tằm nằm ngang. Theo tướng pháp đó là hai tướng tốt cho phụ nữ: gia đạo hưng vượng và sinh quý tử.
(0412) khuôn xanh: bởi chữ thương khung , tức trời xanh.  
(0258) khuynh thành: xem chú thích "nghiêng nước nghiêng thành" 0025-0036.
(0092) kiếm: tìm kiếm. Ghi chú: Vì trước đó, "chị em thơ thẩn dan tay ra về", và Thúy Kiều không có sẵn nén hương nào trong tay. Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: Kiếm là để đem dâng, đem lễ, chứ không phải là tìm kiếm. 
(0146) kiều: chữ "kiều" trong bản Nôm Liễu Văn Đường 1871 viết như tên của (Thúy) Kiều. Có bản Nôm dùng chữ "kiều" khác. Trong câu này "hai kiều" chỉ hai người con gái đẹp. 
(0410) kim môn : viết tắt của kim mã môn . Đời Hán Vũ Đế, ở bên cổng vào cung Vị Ương có dựng tượng ngựa bằng đồng gọi là kim mã môn. Vua Hán Vũ Đế đã từng tiếp đãi các học sĩ ở đây. Vì thế kim môn mượn chỉ những người học giỏi. 
(0294) kim thoa : thoa làm bằng vàng. Thoa là cái búi tóc của đàn bà, như cái trâm nhưng có hai ngạnh. 
(0354) kim thoa: bản Nôm ở đây khắc là "kim châu" . Tạm ghi âm Quốc Ngữ là "kim thoa" theo như một số bản Nôm khác, và cho hợp nghĩa với câu "Với cành thoa ấy tức thì đổi trao" ở dưới. 
(0260) kì ngộ : cuộc gặp gỡ lạ thường.
<Home> 

L 
(0266) Lam kiều: Tương truyền đời Đường, Bùi Hàng hỏng thi, đi qua trạm Lam kiều , gặp nàng Vân Anh ở đây. Bà mẹ nàng bảo hễ có cái chày giã thuốc bằng ngọc đem lại kháp vừa cái cối ngọc thì gả con gái cho. Về sau Bùi Hàng lấy được Vân Anh và hai người đều thành tiên (Thái bình quảng kí , Quyển ngũ thập, Bùi Hàng). Trong câu thơ này, Lam kiều chỉ nơi có người đẹp ở. 
(0268) lá thắm: bởi chữ hồng diệp , ý nói nhân duyên tốt đẹp. Có nhiều thuyết tương tự, chẳng hạn: Đời Hi Tông , cung nữ Hàn Thị lấy lá đỏ viết một bài thơ đem thả theo dòng nước trôi ra ngoài. Vu Hựu bắt được, lại đề một bài thơ để trôi ngược vào trong cung. Hàn Thị nhặt được lá đỏ có đề thơ đó. Về sau vua thải ba ngàn cung nữ. Vu Hựu lấy được Hàn Thị (Lưu Phủ 劉斧, Thanh tỏa cao nghị , Lưu hồng kí ).  
(0333) lá thắm: xem chú thích 0265-0276. 
(0087) làm vợ khắp người ta...: sinh tố vạn nhân thê, tử thị vô phu quỷ , 夫鬼 (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) sống làm vợ muôn người, chết làm ma không chồng. 
(0280) Lãm Thúy : tên vườn chỗ nhà Kim Trọng ở thuê. Lãm Thúy nghĩa là ngắm cảnh xanh tươi. Kim Trọng mừng thầm chắc có duyên tiền định, vì tên đệm của Kiều và Vân đều là Thúy. 
(0025) làn thu thủy nét xuân sơn: nhãn như thu thủy, mi tự xuân sơn , mắt trong như nước mùa thu, lông mày phơn phơn như núi mùa xuân. Ghi chú: chữ Nôm ghi âm "nét" trong bản khắc này chính là chữ "thấp" . Nhưng khó giải nghĩa "thấp" là gì, nên tạm ghi âm Quốc ngữ là "nét" theo nhiều bản Nôm khác. 
(0311) lân lí: xóm giềng.  
(0362) lầu trang: bởi chữ trang lâu , phòng của phụ nữ, khuê phòng. Liễu Vĩnh : Nhật cao hoa tạ lãn sơ đầu, Vô ngữ ỷ trang lâu , (Thiếu niên du ) Mặt trời trên cao ở đài hoa biếng chải đầu, Lặng lẽ dựa lầu trang.

(0168) lên: chữ Nôm trong bản này đúng ra phải đọc là "xuống". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "lên" theo nhiều bản Nôm quen thuộc khác. 
(0136) lỏng buông tay khấu: buông lỏng cương ngựa đi thong thả. 
(0137) lưng túi gió trăng: gió và trăng thường là đề tài ngâm vịnh ngày xưa; "lưng túi gió trăng" là túi thơ phú mang theo, còn lưng chưa đầy. 
(0345) lượng xuân: lòng bao dung. 
(0382) lửa hương: bởi chữ hương hỏa . Chỉ hương lửa thắp lên khi thề ước cùng nhau. 
<Home>

M
(0017) mai cốt cách : vóc người mềm mại dong dỏng như cành mai.
(0086) má hồng: chỉ người đẹp, bởi chữ hồng nhan .
(0255) mành tương: bởi chữ tương liêm , tức là rèm làm bằng tương phi trúc , một loại trúc đốm. Tương truyền, hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh ngày xưa khóc vua Thuấn ở trên bờ sông Tương , nước mắt rớt xuống cây trúc làm thành những vết lốm đốm, từ đó có giống ban trúc hay tương phi trúc 湘妃
(0226) màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa: Ngọc dung tịch mịch lệ lan can, Lê hoa nhất chi xuân đái vũ , (Bạch Cư Dị , Trường hận ca ) Mặt ngọc lặng lẽ, nước mắt chan hòa, Như một cành hoa lê trĩu nặng mưa xuân. Tản Đà dịch thơ: Lệ dàn mặt ngọc lưa thưa, Cành lê hoa trĩu hạt mưa xuân đầm
(0238) mạch sương : nước mắt. Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan (Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê). Ghi chú: Bản Nôm Kiều Oánh Mậu 1902 khắc là "Tương" . Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: "Bà Nga Hoàng và bà Nữ Anh ngày xưa khóc vua Thuấn ở trên bờ sông Tương , cho nên bây giờ người ta thường lấy chữ tương mà ví nước mắt đàn bà". 
(0249) mây Tần: sách Thái Bình Ngự Lãm chép: Tần vân như mĩ nhân mây Tần như người đẹp. 
(0022) mây thua nước tóc: tóc mượt hơn cả mây. Chẩn phát như vân (Thi Kinh, Dung Phong, Quân tử giai lão ) Tóc đen rậm mượt như mây.
(0342) mối manh: mai mối, nhờ người trung gian lo việc cưới hỏi.
(0235) mộng huyễn : cảnh mộng không có thật. 
(0233) mộng triệu : điềm thấy trong giấc mộng. 
(0202) một hội một thuyền: cùng chung một hoàn cảnh, thân phận như nhau. 
(0156) một nền Ðồng Tước khóa xuân hai Kiều: Đông phong bất dữ Chu lang tiện, Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều 便, (Đỗ Mục, Xích Bích ) Nếu gió đông không giúp Chu Du, thì hai Kiều (tức Đại Kiều và Tiểu Kiều đời Tam Quốc) đã bị nhốt kín ở trong đài Ðồng Tước. Ghi chú: Đại Kiều lấy Tôn Quyền, Tiểu Kiều lấy Chu Du. Ðồng Tước là tên đài do Tào Tháo dựng lên ở thành Nghiệp. Ý hai câu thơ của Đỗ Mục là nếu không nhờ gió đông giúp Chu Du phá tan quân Tào ở Xích Bích, thì hai nàng Kiều đã bị đem dâng làm thiếp cho Tào Tháo ở đài Ðồng Tước. Ở đây, trong hai câu thơ 155-156, Nguyễn Du mô tả chàng Kim ngắm nghé hai chị em xinh đẹp Thúy Kiều Thúy Vân ở nơi kín cổng cao tường.
(0098) một và: một vài. 
(0203) mười bài: tức là mười bài thơ cho Kiều làm theo mười đề mục: (1) Tích đa tài (2) Liên bạc mệnh  (3) Bi kì lộ (4) Ức cố nhân (5) Niệm nô kiều (6) Ai thanh xuân (7) Ta kiển ngộ (8) Khổ linh lạc (9) Mộng cố viên (10) Khốc tương tư .  
<Home>

N
(0034) não nhân: làm cho não lòng người nghe nhạc.  
(0406) nàng Ban: tức Ban Chiêu đời Đông Hán, vợ Tào Thế Húc, học rộng tài cao, giỏi thơ, đời xưa xưng là Tào Đại Gia
(0198) ném châu gieo vàng: Tôn Hưng làm xong bài Thiên Thai phú , đưa cho Phạm Vinh Kì xem và bảo rằng: Khanh thí trịch địa, yếu tác kim thạch thanh 卿試, (Thế thuyết tân ngữ , Văn học ) Ông thử ném thiên văn chương này xuống đất, thì nó sẽ phát ra như tiếng vàng (chuông) tiếng đá (khánh) vậy. Ý nói văn chương hay như ngọc như vàng. 
(0348) nét thu: bởi chữ thu ba chỉ mắt người con gái (trong sáng long lanh như nước mùa thu). 
(0184) nên câu tuyệt diệu: làm được câu thơ văn cực hay. Bởi bốn chữ tuyệt diệu hảo từ . Điển cố: Dương Tu đọc tám chữ khắc trên bia của nàng Tào Nga: Hoàng quyên ấu phụ, ngoại tôn cữu , , và phân tích như sau: hoàng quyên = sắc ti = tuyệt ; ấu phụ = thiếu nữ = diệu ; ngoại tôn = nữ tử = hảo ; cữu = thụ tân = từ , thành câu "tuyệt diệu hảo từ" (Thế thuyết tân ngữ , Tiệp ngộ ). Câu thơ của Nguyễn Du ở đây ý nói Thúy Kiều vừa làm xong một bài thơ tứ tuyệt rất hay.

(0077) nếp tử: tức áo quan. Gỗ cây tử dùng làm áo quan. 
(0316) niềm tây: nỗi lòng riêng, ý riêng.
(0426) non đoài: núi phía tây.  
(0439) non Thần: tức Thần Châu , núi tiên ở.
(0389) núi giả: bởi chữ giả sơn , tức là núi nhỏ do người đắp lên làm cảnh ngắm trong sân trong vườn.
(0066) nửa chừng xuân: giữa khi còn trẻ tuổi. 
(0157) nước non cách mấy: sông núi xa cách, bởi câu mạc nhược hà sơn xa như núi sông cách trở.  
(0207) nức nở: chữ khắc trong bản Nôm đọc là "nức thỏm" có phần đúng âm hơn. Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "nức nở" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.  
<Home>

Ng
(0369) ngày gió đêm trăng: phong thần nguyệt tịch
(0086) ngày xanh: thời tuổi trẻ, bởi chữ thanh xuân
(0468) ngang mày: Đời Đông Hán, bà Mạnh Quang dọn cơm cho chồng dâng mâm lên ngang mày. Chỉ sự vợ chồng đối đãi với nhau như khách quý: tương kính như tân (Hậu Hán Thư, Lương Hồng truyện ). Ở đây, tỏ ý kính trọng. 
(0297) ngẫm âu: ngẫm nghĩ thì thấy rằng. 
(0323) ngẫu nhĩ : ngẫu nhiên, tình cờ. 
(0168) nghé theo: trông theo, ngóng theo.
(0027) nghiêng nước nghiêng thành: Lí Diên Niên ca rằng: Bắc phương hữu giai nhân, tuyệt thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc , , , (Hán thư, Ngoại thích truyện thượng, Hiếu Vũ Lí phu nhân ) Phương Bắc có người đẹp, một đời không ai bằng, ngoảnh lại nhìn một lần nghiêng thành người, ngoảnh lại nhìn lần thứ hai nghiêng nước người. Ý nói sắc đẹp tuyệt thế có thể làm cho người ta say mê đến nỗi mất thành mất nước. 
(0371) ngoại gia: nhà họ ngoại, bên họ nhà mẹ. 
(0410) ngọc bội : ngọc buộc trên dải áo để trang sức. Lễ Kí : Quân tử tại xa, tắc văn loan họa chi thanh, hành tắc minh bội ngọc , , (Ngọc tảo ) Quân tử trên xe, thì nghe tiếng chuông vang, đi thì ngọc đeo trên mình kêu (lách cách).
(0461) nguyệt nọ hoa kia: Nguyên truyện: Thúy Kiều đạo: Trừ cẩu hợp chi ngoại, nhất duy lang mệnh : , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) Thúy Kiều nói: Ngoài việc cẩu hợp ra, chàng sai bảo gì thiếp cũng xin vâng. 
(0031) ngũ âm : năm âm trong nhạc bộ (cung, thương, giốc, chủy, vũ , , , , ). 
(0181) người đâu: chỉ Kim Trọng.
(0179) người mà: chỉ Đạm Tiên. 
<Home>

Nh
(0375) nhà hương: có bản Nôm ghi là "nhà lan", bởi chữ lan thất . Mĩ xưng chỉ chỗ ở của phụ nữ. Cũng gọi là: khuê phòng, lan phòng, lan đường.
(0223) nhà huyên: bởi chữ huyên đường vốn chỉ chỗ ở của mẹ. Sau mượn chỉ mẹ. 
(0405) nhả ngọc phun châu: lời thơ làm ra như nhả từng viên ngọc, phun ra từng hạt châu. 
(0134) nhạc vàng: tiếng lục lạc bằng đồng, đeo ở cổ ngựa, kêu leng keng. 
(0230) nhắp: chợp mắt ngủ. Ghi chú: bản Nôm khắc chữ . Nhưng có nhiều bản Nôm ghi là (+), đọc âm "nhắp". 
(0420) nhân định thắng thiên : sức người có thể khắc phục được trở ngại tự nhiên, thay đổi hoàn cảnh. Tô Thức: Nhân chúng giả thắng thiên, thiên định diệc năng thắng nhân , (Tam hòe đường minh , Tự ) Người ta khắc phục được trời, cái trời định cũng có thể hơn được người. Nguyên truyện: Kim sinh đạo: Thường văn tâm kiên thạch xuyên, nhĩ ngã chí nguyện như tư, thượng thương tự ứng căng liên, ngọc thành nãi sự : 穿, , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) Kim Trọng nói: Thường nghe nói "Lòng bền dù đá cũng mòn". Chí nguyện đôi ta như vậy, tất ông xanh cũng rủ lòng thương, mà cho việc được vuông tròn. 
(0014) nho gia : nhà có học thức.
<Home>

P
(0254) phím loan: phím đàn, bởi chữ loan giao . Đời Hán Vũ Đế, xứ Tây Hải dâng lên một thứ keo (giao) làm bằng mỡ chim loan, vua dùng để dán lại dây đàn bị đứt. 
(0332) phỉ phong : Thái phong thái phỉ (Thi Kinh, Bội phong , Cốc phong ) Hái rau phong rau phỉ. Ở đây ý nói mình quê mùa mộc mạc. 
(0396) phong nguyệt : gió trăng, chỉ tình yêu trai gái. 
(0152) phong nhã : phong lưu, văn nhã. 
(0399) phong sương : gió và sương. 
(0009) phong tình cố lục : sách cũ chép về tình yêu trai gái.
(0188) phong vận : dung mạo tư thái xinh đẹp.
(0149) phú quý : giàu sang, có địa vị cao. 
(0089) phượng chạ loan chung: loan chỉ chim loan, phượng là chim phượng hoàng. Loan phượng chỉ vợ chồng. 
<Home>

Q
(0201) quả kiếp nhân duyên: quả báo duyên nghiệp. Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị. Nhược vấn hậu thế quả, kim sinh tác giả thị , . , (Phật thuyết tam thế nhân quả kinh ) Muốn biết về nhân duyên kiếp trước, thì hãy xem đời này hưởng thụ ra sao. Muốn hỏi về quả báo kiếp sau, thì hay xem đời này ăn ở ra sao.
(0308) quân tử : tiếng tôn xưng người khác. 
(0163) quốc sắc : sắc nước, chỉ người đẹp. Thiên hương dạ nhiễm y, Quốc sắc triêu hàm tửu , (Lí Chính Phong ) Hương trời đêm thấm áo, Sắc nước sớm rượu say. Hai câu này vốn tả hương sắc tuyệt trần của hoa mẫu đơn, sau mượn chỉ người đẹp. 
(0453) quỳnh tương 漿: thức uống của người tiên, chỉ rượu ngon. Bạch Phác : Lãn chước quỳnh tương lãnh ngọc hồ 漿 (Dương xuân khúc , Đề tình ) Biếng rót chén quỳnh bầu rượu lạnh. 
<Home>

R
(0166) rốn ngồi: nán lại thêm một chút. 
(0121) rung cây: chữ Hán "di" thường đọc âm Nôm là "đưa". Nhưng tạm ghi là "rung" (cây) theo nhiều bản Nôm khác.
(0445) rước: bản Nôm ở đây khắc là "liên" , đọc âm Nôm là "liền", cũng hợp nghĩa. Tuy nhiên, chữ "liên" có dạng viết rất giống chữ "sước" trong nhiều bản Nôm phổ biến khác, đọc âm Nôm là "rước". 
<Home>

S
(0458) sàm sỡ: sỗ sàng. 
(0247) sầu đong càng khắc càng đầy: Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: Cái sầu đong cho vơi đi, thì chốc chốc lại đầy lên, cũng như nói: buồn muốn làm khuây mà không khuây được. Bản Nôm Tăng Hữu Ứng 1874 chép là: Sầu đong càng lắc càng đầy, rất gần với hình ảnh trong câu ca dao: Ai đi muôn dặm non sông, Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy
(0190) sen vàng: chỉ bước chân của người đàn bà đẹp. Điển cố: Đông Hôn Hầu đời Nam Tề, yêu Phan phi , sai làm hoa sen dát vàng xuống đất cho nàng đi, và bảo rằng: Thử bộ bộ sinh liên hoa dã (Nam sử, Tề kỉ hạ), nghĩa là: mỗi bước chân nở ra một đóa sen.
(0446) song đào : cửa sổ có hoa đào (?). 
(0283) song hồ: cửa sổ dán giấy. Ngày xưa người Trung Quốc dụng chỉ hồ song , nghĩa là: dùng giấy dán cửa sổ.
(0428) song sa: cửa sổ che màn the. Xem chú thích song the 0241-0252.
(0249) song the: bởi chữ sa song cửa sổ che màn the.
(0365) sông Tương: Thời Ngũ Lí nhà Chu , nàng Lương Ý Nương gặp Lí Sinh . Hai người yêu thương nhau, sau phải biệt li. Lương Ý Nương làm bài thơ gửi cho Lí Sinh, có những câu: Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ. Tương tư bất tương kiến, Đồng ẩm Tương giang thủy , . , Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương. Nhớ nhau không thấy mặt nhau, Cùng uống nước sông Tương. 
(0094) suối vàng: bởi chữ hoàng tuyền chỗ ở sau khi chết, tức âm phủ. Thời xưa, có thuyết cho rằng thiên địa huyền hoàng là suối ở dưới đất. 
(0189) sương in mặt tuyết pha thân: Tản Đà ghi: Câu này ý nói trên mặt và trên thân người tiểu kiều ấy, còn như có sương tuyết in phủ, ấy là tả cái tình trạng của một người đêm tối đi đến, (...) từ nơi xa đó đến chơi vậy. Theo nguyên truyện: Thúy Kiều mang chỉnh y tương nghênh, kiến na nữ tử đạm trang tố phục , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện), nghĩa là: Thúy Kiều vội sửa áo xiêm đứng dậy đón chào, thấy cô gái ấy trang điểm sơ sài, mặc quần áo trắng. 
(0009) sử xanh: ngày xưa, chưa có giấy, dùng thẻ tre để viết hoặc ghi chép sử, gọi là thanh sử
<Home>

T
(0403) tay tiên: bản Nôm ở đây khắc là ngộ khi. Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là tay tiên, theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0149) tài danh : tài học xuất chúng và có tiếng tăm. 
(0115) tài hoa : tài năng phát hiện ra ngoài. 
(0151) tài mạo : tài hoa và dung mạo.
(0002) tài mệnh: Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương (Đường , Lí Thương Ẩn , Hữu cảm ) Xưa nay tài và mệnh xung khắc nhau. Ý nói có tài hơn người thì phần mệnh phải kém.
(0063) tài sắc : tài hoa và sắc đẹp. 
(0046) tài tử giai nhân : trai tài gái sắc, chỉ chung trai gái đông đảo đi chơi xuân. 
(0101) tâm thần : trạng thái tinh thần, tâm tình. 
(0195) tây thiên 西: phần mộ ở phía tây; cũng có thể hiểu là ở khu ngoài thành phía tây. 
(0359) tất giao : (gắn bó như) keo sơn. Cổ thi: Dĩ giao đầu tất trung, thùy năng biệt li thử , (Mạnh đông hàn khí ) Lấy keo bỏ vào trong sơn, ai mà chia rẽ được. 
(0102) tần ngần: thẫn thờ. 
(0209) tập đoạn trường: tập thơ của Hội đoạn trường đã nói ở đoạn 0193-0204. Ngoài ra, cũng có quyển thơ Đoạn trường tập của nữ sĩ Chu Thục Chân người Tiền Đường (nay là Chiết Giang Hàng Châu). 
(0090) tiếc lục tham hồng: tích lục tham hồng tiếc màu xanh tham màu đỏ, trỏ vào khách làng chơi. 
(0430) tiệc hoa: bởi chữ hoa diên , chỉ bữa tiệc thịnh soạn.
(0447) tiên thề: lời thề chép trên giấy hoa tiên. Hoa tiên là loại giấy đẹp dùng để viết thơ từ.
(0050) tiền giấy: tiền giả bằng giấy, dùng làm đồ mả.
(0465) tiện kĩ: tài mọn, nghề mọn (lời nói khiêm).  
(0437) tiếng sen: tiếng bước chân đi. Xem chú thích sen vàng 0181-0192.
(0053) tiểu khê : khe nước nhỏ. 
(0187) tiểu kiều : người con gái xinh xắn. 
(0368) tin xuân: bởi chữ xuân tín tin tức về mùa xuân, tin vui. Lưu Khắc Trang : Xuân tín phân minh đáo thảo lô, Hô nhi cô tửu mãi khê ngư , (Bệnh hậu phỏng mai ) Tin xuân rõ ràng đến trên cây cỏ trên bông lau, Gọi con đi mua rượu và cá khe suối. 
(0126) tinh thành : rất thật lòng.
(0339) tình si: tình yêu mê đắm.
(0448) tóc mây một ước dao vàng chia hai: cắt lọn tóc chia đôi mà thề ước cùng nhau. 
(0228) tóc tơ chưa đền: chưa đền đáp chút gì cả.
(0015) Tố Nga : là vợ Hậu Nghệ 羿, uống trộm thuốc trường sinh bất tử của chồng, bay lên cung trăng thành tiên. Còn gọi là Thường Nga , Hằng Nga . Đây chỉ người con gái đẹp.   
(0137) tuyết in sắc ngựa: ngựa trắng như tuyết. 
(0022) tuyết nhường màu da: cơ phu nhược băng tuyết, xước ước nhược xử tử , 處子 (Trang Tử, Tiêu dao du ) da thịt như băng tuyết, mềm mại xinh đẹp như gái chưa chồng (Nhượng Tống dịch, xem: Nam Hoa Kinh). 
(0017) tuyết tinh thần : tinh thần trong trắng như tuyết. 
(0208) tú khẩu cẩm tâm : Biền tứ lệ lục, cẩm tâm tú khẩu , (Liễu Tông Nguyên , Khất xảo văn ) Câu bốn chữ liền câu sáu chữ, (văn hay như) lòng gấm miệng thêu. 
(0460) tương tri: biết lòng nhau. 
(0038) tường đông: tường phía đông, mượn chỉ hàng xóm, láng giềng. Du đông gia tường nhi lâu kì xử tử (Mạnh Tử , Cáo tử chương cú hạ ) Trèo qua tường nhà hàng xóm ôm ấp con gái người ta.
(0284) tường đông: xem chú thích 0037-0048.
(0293) tường gấm: bởi chữ cẩm tường , tức là tường trang trí chạm trổ đẹp đẽ.
(0140) tự tình : biểu đạt tình tự, bày tỏ tình cảm. 
(0186) tựa ngồi bên triện: Đào Duy Anh giải thích: "triện" chỉ cái cửa sổ có chấn song làm hình chữ triện. Theo nguyên truyện: Thúy Kiều đề bãi, tình tư bất khoái, ẩn kỉ nhi ngọa, mông mông lông lông , , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) nghĩa là: Thúy Kiều đề thơ xong, tâm thần mỏi mệt, liền tựa ghế mà nằm, mơ mơ màng màng. 
<Home>

Th
(0193) thanh khí : Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu , (Dịch Kinh, Càn quái ) Cùng một thanh thì ứng với nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau.
(0043) thanh minh : là một tiết tháng ba âm lịch mùa xuân. Cũng gọi là tảo mộ tiết hay đạp thanh tiết . Tục bên Tàu ngày xưa vào tiết thanh minh người ta giẫm chân lên cỏ xanh, đi viếng mộ quét tước. 
(0059) thanh minh: xem chú thích thanh minh 0037-0048. 
(0188) thanh tân : tươi tắn. 
(0116) thác là thể phách: Thúy Kiều đạo: Tử giả khu xác, bất tử giả tinh thần, tinh thần thiên cổ do tồn , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) Thúy Kiều nói: Thể xác chết, tinh thần không chết, tinh thần nghìn đời vẫn còn. 
(0327) tháng tròn như gởi cung mây: lấy nghĩa câu nguyệt kí tâm vu nguyệt cung tháng nào cũng để bụng ở cung tiên trong mặt trăng (theo Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim). 
(0138) thằng con con: hề đồng, trẻ theo hầu. 
(0288) thèm hai: gần hai tháng. Nguyên truyện: Mỗi nhật hoặc ức diện quan chiêm, hoặc thùy đầu tư thốn, đãn trù trướng ư đông tường chi hạ. Bất giác nhất trụ nguyệt dư, chỉ hận bất năng dữ nhị Thúy nhất diện , , . , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Đệ nhị hồi) Mỗi ngày chỉ ngẩng mặt ngóng, hoặc cúi đầu nghĩ ngợi, buồn rầu đứng dưới tường nhà hàng xóm. Thấm thoắt hơn một tháng, chỉ hận là không có cách nào được gặp mặt hai nàng Thúy Kiều và Thúy Vân.
(0034) thiên Bạc mệnh: tên bài nhạc do Thúy Kiều tự soạn ra.
(0066) thiên hương : thiên hương nhất chi một cành hoa thơm của trời. Ý nói người đàn bà đẹp. 
(0163) thiên tài : tài năng trác tuyệt trời phú cho. 
(0392) Thiên Thai : cõi tiên. Thời Hán Minh Đế, Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng nhau vào núi Thiên Thái hái thuốc, sau gặp được tiên nữ ở trong đó.
(0151) thiên tư : tư chất bẩm phú. 

(0040) thiều quang : quang cảnh đẹp. Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi ý nói: trong ba tháng mùa xuân, hơn hai tháng đã qua rồi. 
(0314) thiểu não: buồn rầu, đau khổ. 
(0079) thỏ lặn: trăng lặn. Tương truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng, nên gọi ngọc thố là mặt trăng.
(0377) thời trân : hoa quả vật quý đang mùa. Nguyên truyện: Hậu phụ mẫu đệ muội xuất môn chi hậu, mang thu thập hạ kỉ vị giai hào, nhất hồ mĩ tửu, tiên tự đáo hậu hoa viên lai, yếu tầm kiến Kim sinh, trí tạ tiền nhật hoàn thoa công án , , , , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) (Thúy Kiều) chờ cha mẹ và hai em đi khỏi, rồi vội vàng sửa soạn mấy món ăn và một hồ rượu ngon, đi vào vườn hoa sau nhà, định tìm Kim Trọng để cảm tạ về việc trả thoa hôm trước. 
(0021) thốt: nói. Tục ngữ: Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. 
(0172) thu không: Ở các lầu canh như cửa thành, khi chập tối thì đánh một hồi trống hay hồi chiêng gọi là "thu không" (theo Đào Duy Anh). Có thuyết cho là bởi chữ sưu không nghĩa là thu thập xem xét trong thành lúc bắt đầu tối. 
(0352) thủy chung : trước sau như một. 
(0395) thư hiên : mái hiên đọc sách, phòng văn, phòng học. 
(0245) thư song : phòng đọc sách, phòng học.  
(0370) thưa hồng rậm lục: lục ám hồng hi màu xanh u ám, màu hồng tàn tạ. Chỉ cảnh tượng cuối mùa xuân. Ghi chú: Bản chữ Nôm khắc là tơ hồng Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "thưa hồng" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
(0170) thướt tha: theo chữ Nôm phải đọc là "đã ra". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "thướt tha" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
<Home>

Tr
(0398) tranh tùng: nguyên truyện: Hốt kiến bích thượng nhất bức sơn cư đồ, vị hữu xưng đề , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) (Thúy Kiều) Chợt thấy trên vách một bức tranh tùng bách mà chưa có đề vịnh. 
(0001) trăm năm: chỉ đời người (thường sống được khoảng một trăm năm).
(0070) trâm gãy bình rơi: bình trầm trâm chiết bình chìm trâm gãy. 
(0328) trần trần một phận ấp cây: Có người nước Tống cày ruộng. Trong ruộng có gốc cây. Con thỏ chạy đụng gốc cây, gãy cổ chết. Người đó bèn bỏ cày mà giữ gốc cây, mong lại bắt được thỏ (Hàn Phi Tử , Ngũ đố , Thủ châu đãi thố ) (Trần Trọng San dịch). Ở đây ý nói cứ đợi mãi mà không thấy kết quả.
(0386) tri âm : Bá Nha giỏi gảy đàn. Chung Tử Kì giỏi nghe đàn. Khi Bá Nha nghĩ tới núi cao, Tử Kì nói: Chót vót như núi Thái Sơn; khi Bá Nha nghĩ tới nước chảy, Tử Kì nói: Mênh mang như dòng sông (Liệt Tử , Thang vấn ). Vì thế tri âm có nghĩa là tri kỉ, người cùng chí hướng với mình. 
(0006) trời xanh quen với má hồng đánh ghen: thiên đố hồng nhan trời ganh ghét với người đẹp. 
(0148) trâm anh : trâm là cái cài tóc của đàn bà, anh là dải mũ; trâm anh chỉ nhà hiển quý, dòng dõi có người làm quan to.
(0310) trọng nghĩa khinh tài : trọng đạo nghĩa mà coi thường tiền của. 
(0211) trở hài: quay gót giày bước trở ra.
(0158) trộm dấu thầm yêu: yêu thương nhung nhớ trong lòng, người ngoài chưa biết. 
(0254) trúc se ngón thỏ: quản bút làm bằng trúc, ngọn bút làm bằng lông thỏ (thố mao bút ), để lâu không viết nên bị khô. § Ghi chú: chữ Nôm "thỏ" hoặc ở đây khắc lầm thành chữ Hán "quỷ" .
(0434) trướng huỳnh: màn đom đóm. Bởi chữ huỳnh trướng hay huỳnh song . Đời Tấn, Xa Dận nhà nghèo không có dầu thắp đèn, bắt đom đóm lấy ánh sáng mà đọc sách (Tấn Thư 晉書, Xa Dận truyện ). 
(0222) trướng loan: bởi chữ loan trướng màn thêu hình chim loan, màn trướng nói chung.
<Home>


U
(0128) u hiển : chỉ âm gian và dương gian, tức chỗ của người chết và chỗ người sống.
<Home>

V
(0393) vạn phúc : thời xưa phụ nữ gặp mặt ai, sửa vạt áo vái lạy, miệng nói vạn phúc, ý chúc tụng được nhiều may mắn tốt lành, thân thể khỏe mạnh, v.v.
(0135) văn nhân : thư sinh. 
(0422) vàng đá: bởi chữ kim thạch , tỉ dụ ý chí hoặc tình cảm vững bền không dời đổi.
(0050) vàng vó: ở vùng Nghệ Tĩnh gọi vàng hồ là vàng vó (theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim). 
(0112) vận vào khó nghe: Vương Quan bảo chị đừng nói gở.
(0012) viên ngoại : tiếng dùng ở Trung Quốc ngày xưa để gọi những nhà khá giả.
(0067) viễn phương : phương xa. 
(0362) viện sách: phòng học, thư phòng. 
(0078) vùi nông: chôn xong rồi bỏ đó.
<Home>

X
(0391) xắn: chữ khắc trong bản Nôm ở đây gồm: bộ thủ "tẩu" và chữ Hán "dư" , khó đọc âm thành "xắn". Tạm ghi âm Quốc Ngữ là "xắn" theo nhiều bản Nôm khác (dùng Hán tự "sấn" ).
(0077) xe châu: châu xa xe trang hoàng hoa mĩ. Đây chỉ xe tang.
(0459) xích thằng: xem chú thích chỉ hồng 0325-0336.
(0162) xuân lan thu cúc : Trần Hậu Chủ hỏi Tùy Dưỡng Đế: Tiêu Phi (hậu phi của Tùy Dưỡng Đế) và Trương Lệ Hoa (sủng phi của Trần Hậu Chủ), ai đẹp hơn ai? Tùy Dưỡng Đế trả lời: Xuân lan thu cúc, các nhất thì chi tú dã , 各一 (Đại nghiệp thập di kí ) nghĩa là: Hoa lan mùa xuân, hoa cúc mùa thu, mỗi thứ có cái đẹp theo từng mùa. Câu thơ của Nguyễn Du ý nói Thúy Kiều và Thúy Vân mỗi người đẹp một vẻ. 
(0344) xuân xanh: bởi chữ thanh xuân chỉ tuổi trẻ. 
(0318) xuyến vàng: bởi chữ kim xuyến vòng trang sức bằng vàng. 
(0325) xương mai: bởi chữ mai cốt , tức là cốt cách của hoa mai. 
<Home>

Y
(0045) yến anh : từng đàn từng lũ như chim én, chim anh. 
(0064) yến anh : xem chú thích yến anh 0037-0048
<Home>



(còn tiếp)



A B C Ch D Đ E G Gi H I K L M N Ng Nh O P Q R S T Th Tr U V X Y



<Home>

















No comments:

Post a Comment