Wednesday, March 13, 2013

0457-0468



Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871
0457-0468

Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng,
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Ðừng điều nguyệt nọ hoa kia.
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.
Chàng rằng: Nghe nổi cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kì.
Thưa rằng: Tiện kĩ sá chi,
Ðã lòng dạy đến dạy thì phải vâng.
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đã cầm nâng ngang mày.
<trang trước>  <trang sau>

Chú thích

cầm trăng

(0457) chày sương: chỉ cái chày ngọc để giã thuốc trong sự tích về cầu Lam.
(0457) cầu Lam: xem chú thích Lam kiều 0265-0276.
(0458) sàm sỡ: sỗ sàng.
(0459) hồng diệp: xem chú thích lá thắm 0265-0276.
(0459) xích thằng: xem chú thích chỉ hồng 0325-0336.
(0460) tương tri: biết lòng nhau.
(0461) nguyệt nọ hoa kia: Nguyên truyện: Thúy Kiều đạo: Trừ cẩu hợp chi ngoại, nhất duy lang mệnh : , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) Thúy Kiều nói: Ngoài việc cẩu hợp ra, chàng sai bảo gì thiếp cũng xin vâng.
(0463) cầm đài : chỗ ngồi gảy đàn. Cũng chỉ chỗ Tư Mã Tương Như thời Hán ngồi gảy đàn cho nàng Trác Văn Quân nghe. Người đời sau đặt tên chỗ ấy là Cầm Đài.
(0464) Chung Kì: xem chú thích tri âm 0385-0396. 
(0465) tiện kĩ: tài mọn, nghề mọn (lời nói khiêm).
(0467) cầm trăng: đàn nguyệt, bởi chữ nguyệt cầm .
(0468) ngang mày: Đời Đông Hán, bà Mạnh Quang dọn cơm cho chồng dâng mâm lên ngang mày. Chỉ sự vợ chồng đối đãi với nhau như khách quý: tương kính như tân (Hậu Hán Thư, Lương Hồng truyện ). Ở đây, tỏ ý kính trọng.





 

Monday, March 4, 2013

0433-0444


Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871
0433-0444

Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông thấy trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.
Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa cho phải dọ đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?

Chú thích
bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần
(0434) trướng huỳnh: màn đom đóm. Bởi chữ huỳnh trướng hay huỳnh song . Đời Tấn, Xa Dận nhà nghèo không có dầu thắp đèn, bắt đom đóm lấy ánh sáng mà đọc sách (Tấn Thư , Xa Dận truyện 車胤).
(0437) tiếng sen: tiếng bước chân đi. Xem chú thích sen vàng 0181-0192.
(0437) giấc hòe: Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm mơ được vinh hoa phú quý trong ba mươi năm ở Hòe An quốc , tỉnh giấc, chén thừa còn đó, nhìn thấy tổ kiến ở dưới cành nam cây hòe, chính là quận Nam Kha trong mộng (Lí Công Tá 李公, Nam Kha thái thú truyện ). Về sau người ta lấy Hòe An mộng 安夢 để tỉ dụ đời người như giấc mơ, phú quý được mất vô thường.
(0438) bóng trăng đã xế hoa lê lại gần: Tây Sương Kí 西: Nguyệt di hoa ảnh, nghi thị ngọc nhân lai , 是玉 (Đệ tứ bổn, Đệ nhất chiết) Ánh trăng xê dịch bóng hoa, ngờ là có người đẹp đi tới.
(0439) đỉnh Giáp: bởi chữ Vu Giáp hay Vu Sơn . Thời Chiến Quốc, hai vua Sở Hoài Vương và Tương Vương đều đi chơi Cao Đường, nằm mộng thấy thần nữ ở Vu Sơn đến cùng chăn gối (Tống Ngọc , Thần nữ phú , Tự ).
(0439) non Thần: tức Thần Châu , núi tiên ở.
(0444) chiêm bao: giấc mơ. Tây Sương Kí 西: Thẩm vấn minh bạch, chỉ nghi thị tạc dạ mộng trung lai , 疑是 (Đệ tứ bổn, Đệ nhất chiết). Nhượng Tống dịch thơ: Lẽ nào nhìn thấy rõ ràng, Lại là trong giấc mơ màng gặp nhau.