Sunday, January 27, 2013

0373-0384


<trang trước>  <trang sau>
0373-0384

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.

Nhà hương thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.
Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông:
Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.


Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866

Chú thích

  • biện: sửa soạn. 
  • nhà hương: có bản Nôm ghi là "nhà lan", bởi chữ lan thất . Mĩ xưng chỉ chỗ ở của phụ nữ. Cũng gọi là: khuê phòng, lan phòng, lan đường. 
  • thời trân : hoa quả vật quý đang mùa. Nguyên truyện: Hậu phụ mẫu đệ muội xuất môn chi hậu, mang thu thập hạ kỉ vị giai hào, nhất hồ mĩ tửu, tiên tự đáo hậu hoa viên lai, yếu tầm kiến Kim sinh, trí tạ tiền nhật hoàn thoa công án , , , , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 3) (Thúy Kiều) chờ cha mẹ và hai em đi khỏi, rồi vội vàng sửa soạn mấy món ăn và một hồ rượu ngon, đi vào vườn hoa sau nhà, định tìm Kim Trọng để cảm tạ về việc trả thoa hôm trước.
  • gót sen: xem chú thích sen vàng 0181-0192
  • lửa hương: bởi chữ hương hỏa . Chỉ hương lửa thắp lên khi thề ước cùng nhau.



Thursday, January 24, 2013

0361-0372



Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866
 
0361-0372

Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách nàng dời lầu trang.
Từ phen đá biết tuổi vàng,
Tình càng thấm thía lòng càng ngẩn ngơ.
Sông Tương một dải nông sờ,
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
Một tường tuyết điểm sương che.
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.

Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.

<trang trước>  <trang sau>

Chú thích  

(0362) viện sách: phòng học, thư phòng.
(0362) lầu trang: bởi chữ trang lâu , phòng của phụ nữ, khuê phòng. Liễu Vĩnh : Nhật cao hoa tạ lãn sơ đầu, Vô ngữ ỷ trang lâu , (Thiếu niên du ) Mặt trời trên cao ở đài hoa biếng chải đầu, Lặng lẽ dựa lầu trang.
(0363) đá biết tuổi vàng: thử vàng bằng đá biết được độ vàng thuần chất bao nhiêu phần. Ở đây ý nói biết rõ lòng nhau.
(0365) sông Tương: Thời Ngũ Lí nhà Chu , nàng Lương Ý Nương gặp Lí Sinh . Hai người yêu thương nhau, sau phải biệt li. Lương Ý Nương làm bài thơ gửi cho Lí Sinh, có những câu: Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ. Tương tư bất tương kiến, Đồng ẩm Tương giang thủy , . , Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương. Nhớ nhau không thấy mặt nhau, Cùng uống nước sông Tương.
(0368) tin xuân: bởi chữ xuân tín tin tức về mùa xuân, tin vui. Lưu Khắc Trang : Xuân tín phân minh đáo thảo lô, Hô nhi cô tửu mãi khê ngư , (Bệnh hậu phỏng mai ) Tin xuân rõ ràng đến trên cây cỏ trên bông lau, Gọi con đi mua rượu và cá (câu được dưới) khe suối.
(0369) ngày gió đêm trăng: phong thần nguyệt tịch .
(0370) thưa hồng rậm lục: lục ám hồng hi màu xanh u ám, màu hồng tàn tạ. Chỉ cảnh tượng cuối mùa xuân. Ghi chú: Bản chữ Nôm khắc là tơ hồng Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "thưa hồng" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
(0371) ngoại gia: nhà họ ngoại, bên họ nhà mẹ.
(0372) hai đường: chỉ cha mẹ.






    0349-0360


    <trang trước>  <trang sau>
     
    0349-0360

    Rằng: Trong buổi mới lạ lùng,
    Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang.
    Ðã lòng quân tử đa mang,
    Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.
    Ðược lời như cởi tấm lòng,
    Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.
    Rằng: Trăm năm cũng từ đây,
    Của tin gọi một chút này làm ghi.
    Sẵn tay bả quạt hoa quỳ,
    Với cành thoa ấy tức thì đổi trao.
    Một lời gắn bó tất giao,
    Mái sau dường có xôn xao tiếng người.

    Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866

    Chú thích
    đa mang: nhiều việc bận rộn. 
    đá vàng: bởi câu kim thạch chi ngôn tỉ dụ lời nói chân thành bền chặt như vàng như ngọc.
    thủy chung : trước sau như một. 
    kim thoa: bản Nôm ở đây khắc là kim châu . Tạm ghi âm Quốc Ngữ là "kim thoa" theo như một số bản Nôm khác, và cho hợp nghĩa với câu "Với cành thoa ấy tức thì đổi trao" ở dưới.
    bả quạt hoa quỳ: quạt vẽ hoa quỳ (Thúy Kiều lấy quạt tặng cho Kim Trọng).
    cành thoa: đây là cái thoa bằng vàng mà Thúy Kiều đã bỏ quên trên cành đào. Kim Trọng bắt được thoa này và bây giờ trao lại cho Thúy Kiều. Mấy câu thơ mô tả việc hai người trao đổi tặng vật với nhau hơi tối nghĩa. Các bản Nôm khắc câu khác nhau và các nhà chú giải (Tản Đà, Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, v.v.) đưa ra nhiều ý kiến mâu thuẫn. Dựa theo nguyên truyện có phần mạch lạc hơn: Kim sinh đại hỉ đạo: "Tường cao nhân ải, bất năng đệ thoa, ngã khứ thủ kiện tiếp cước vật lai." Nhân hồi nhập phòng trung, thủ ngân xuyến nhất song, bạch ngân ngũ lưỡng, hãn cân nhất thuế; hựu trì nhất tiểu thê, đáo giả sơn trực tiếp tường đầu, dữ Thúy Kiều đối diện, hiến thượng kim thoa tịnh lễ vật đạo: "Vi mạt bất thiển, liêu vi chí kiến." Thúy Kiều mãn kiểm thông hồng đạo: "Thoa cảm lĩnh khứ, hậu lễ quyết bất cảm thụ." Kim sinh đạo: "Dữ thật biểu chân ý, khanh hà tác sáo từ." Thúy kiều tiếu nhi thụ chi, nhân dĩ thủ trung kim phiến, tụ nội cẩm thuế đáp chi. : ", , ." , , , ; , , , :", ." 滿: ", ." : ", ." , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Hồi 2). Dịch nghĩa: Kim Trọng mừng rỡ nói: "Tường cao người thấp, không đưa cái thoa sang được, để tôi đi lấy cái gì bắc chân lên." Liền trở về phòng, lấy thêm một đôi vòng bạc, năm lạng bạc trắng, một dải khăn tay; lại mang một cái thang nhỏ, đến chỗ giả sơn, dựa đầu tường, leo lên cùng Thúy Kiều đối mặt, rồi đưa cái thoa vàng và lễ vật ra, nói: "Vài món nhỏ mọn không đáng gì, gọi là chút lễ gặp gỡ." Thúy Kiều đỏ bừng mặt, nói: "Cành thoa xin nhận, còn hậu lễ này, nhất quyết không dám lấy." Chàng Kim nói: "Gọi là tỏ lòng thành, sao nàng lại khách sáo như thế." Thúy Kiều cười và nhận lấy, nhân tiện lấy chiếc quạt vàng sẵn trên tay và chiếc khăn gấm trong ống tay áo tặng lại.
    tất giao : (gắn bó như) keo sơn. Cổ thi: Dĩ giao đầu tất trung, thùy năng biệt li thử , (Mạnh đông hàn khí ) Lấy keo bỏ vào trong sơn, ai mà chia rẽ được.






      Monday, January 21, 2013

      0337-0348


      Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866
      0337-0348

      Sinh rằng: Rày gió mai mưa,
      Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi.
      Dù chăng xét tấm tình si,
      Thiệt ta mà có ích gì đến ai?
      Chút chi gắn bó một hai,
      Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
      Khuôn thiêng dù phụ tấc thành,
      Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
      Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
      Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru.
      Lặng nghe lời nói như ru,
      Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.

      <trang trước>  <trang sau>

      Chú thích

        (0339) tình si: tình yêu mê đắm.
        (0342) mối manh: mai mối, nhờ người trung gian lo việc cưới hỏi.
        (0343) khuôn thiêng: chỉ trời, tạo hóa. Xem chú thích: hóa công 0085-0096.
        (0344) xuân xanh: bởi chữ thanh xuân chỉ tuổi trẻ.
        (0345) lượng xuân: lòng bao dung.
        (0348) chiều xuân: bởi chữ xuân tứ , tức là mối tình, tình tự ngày xuân. Ở đây chỉ mối tình chớm nở trong lòng Thúy Kiều. Xuân Phúc dịch sang tiếng Pháp là "éveil de l'amour" (Nguyễn Du, Kim Vân Kiều, Editions Thanh Long, 1986, Belgique).
        (0348) nét thu: bởi chữ thu ba chỉ mắt người con gái (trong sáng long lanh như nước mùa thu).




          Sunday, January 20, 2013

          0325-0336


          <trang trước>  <trang sau>


          0325-0336

          Xương mai tính đã rũ mòn,
          Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay.
          Tháng tròn như gởi cung mây,
          Trần trần một phận ấp cây đã liều.
          Tiện đây xin một hai điều,
          Ðài gương soi đến dấu bèo cho chăng?
          Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
          Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong.
          Dù khi lá thắm chỉ hồng,
          Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
          Nặng lòng xót liễu vì hoa,
          Trẻ con đã biết đâu mà dám thưa.



          Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871

          Chú thích
            xương mai: bởi chữ mai cốt , tức là cốt cách của hoa mai.
            tháng tròn như gởi cung mây: lấy nghĩa câu nguyệt kí tâm vu nguyệt cung tháng nào cũng để bụng ở cung tiên trong mặt trăng (theo Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim).
            trần trần một phận ấp cây đã liều: Có người nước Tống cày ruộng. Trong ruộng có gốc cây. Con thỏ chạy đụng gốc cây, gãy cổ chết. Người đó bèn bỏ cày mà giữ gốc cây, mong lại bắt được thỏ (Hàn Phi Tử , Ngũ đố , Thủ châu đãi thố ) (Trần Trọng San dịch). Ở đây ý nói cứ đợi mãi mà không thấy kết quả.
            đài gương: bởi chữ kính đài chỗ đặt gương soi để chải tóc trang điểm của đàn bà. Ở đây là tiếng tôn xưng người đẹp.
            dấu bèo: bởi chữ bình tung , nghĩa là hành tung vô định, phiêu bạc khắp nơi như cánh bèo trôi nổi. Ở đây là lời nói khiêm.
            băng tuyết : trong sạch, trinh khiết (như giá tuyết).
            phỉ phong : Thái phong thái phỉ (Thi Kinh, Bội phong , Cốc phong 谷風) Hái rau phong rau phỉ. Ở đây ý nói mình quê mùa mộc mạc.
            lá thắm: xem chú thích câu 0265-0276.
            chỉ hồng: bởi chữ xích thằng , ý nói nhân duyên vợ chồng đều có định trước. Tương truyền Vi Cố đi kén vợ, gặp một ông già coi sách dưới trăng, bảo đó là hôn thư. Cứ theo sách ghi, ông già lấy chỉ đỏ buộc chân những người phải lấy nhau. Ông già nói Vi Cố sẽ lấy một đứa con gái nhà nghèo hèn. Vi Cố không muốn, tìm cách giết đi, nhưng sau vẫn lấy đúng người này làm vợ (Lí Phục Ngôn , Tục u quái lục , Định hôn điếm ).