Monday, December 31, 2012

0241-0252


Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866

0241-0252

Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.

Cho hay là thói hữu tình,
Ðố ai dứt mối tơ mành cho xong.
Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,
Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng.


Chú thích

    (0245) thư song : phòng đọc sách, phòng học.
    (0247) sầu đong càng khắc càng đầy: Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: Cái sầu đong cho vơi đi, thì chốc chốc lại đầy lên, cũng như nói: buồn muốn làm khuây mà không khuây được. Bản Nôm Tăng Hữu Ứng 1874 chép là: Sầu đong càng lắc càng đầy, rất gần với hình ảnh trong câu ca dao: Ai đi muôn dặm non sông, Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy.
    (0248) ba thu dọn lại một ngày: Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề , (Thi Kinh, Vương Phong, Thái cát ) Một ngày không thấy nhau lâu bằng ba mùa thu.
    (0249) mây Tần: sách Thái Bình Ngự Lãm chép: Tần vân như mĩ nhân mây Tần như người đẹp.
    (0249) song the: bởi chữ sa song cửa sổ che màn the.
    (0250) bụi hồng: bởi chữ hồng trần cảnh phồn hoa náo nhiệt.
     




    Sunday, December 30, 2012

    0229-0240



    Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866

    0229-0240

    Buổi ngày chơi mả Ðạm Tiên,
    Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
    Ðoạn trường là số thế nào,
    Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia.
    Cứ trong mộng triệu mà suy,
    Thân con thôi có ra gì mai sau.
    Dạy rằng: Mộng huyễn chắc đâu,
    Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.
    Vâng lời khuyên giải thấp cao,
    Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch sương,
    Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
    Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.

    <trang trước>  <trang sau> 

    Chú thích

    (0230) nhắp: chợp mắt ngủ. Ghi chú: bản Nôm khắc chữ . Nhưng có nhiều bản Nôm ghi là (+), đọc âm "nhắp".
    (0231) đoạn trường: xem chú thích 0193-0204.
    (0233) mộng triệu : điềm thấy trong giấc mộng.
    (0235) mộng huyễn : cảnh mộng không có thật.
    (0238) mạch sương : nước mắt. Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan (Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê). Ghi chú: Bản Nôm Kiều Oánh Mậu 1902 khắc là "Tương" . Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim chú giải: "Bà Nga Hoàng và bà Nữ Anh ngày xưa khóc vua Thuấn ở trên bờ sông Tương , cho nên bây giờ người ta thường lấy chữ tương mà ví nước mắt đàn bà".





    0217-0228



    Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866
     
    0217-0228

    Một mình lưỡng lự canh chầy,
    Ðường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
    Hoa trôi bèo giạt đã đành,
    Biết duyên mình biết phận mình thế thôi.
    Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
    Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.

    Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
    Nhà huyên chợt tỉnh hỏi cơn cớ gì.
    Cớ sao trằn trọc canh khuya,
    Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?
    Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
    Dưỡng sinh đôi nợ
    tóc tơ chưa đền.
     
    Chú thích 

    (0219) hoa trôi bèo giạt: Bách niên thân thế nhất phù bình (Chân Sơn Dân , Thứ lí lâm cư xuân hiểu du viên ) Đời người trăm năm như cánh bèo trôi nổi.
    (0222) trướng loan: bởi chữ loan trướng màn thêu hình chim loan, màn trướng nói chung.
    (0223) nhà huyên: bởi chữ huyên đường vốn chỉ chỗ ở của mẹ. Sau mượn chỉ mẹ.
    (0226) màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa: Ngọc dung tịch mịch lệ lan can, Lê hoa nhất chi xuân đái vũ , (Bạch Cư Dị , Trường hận ca ) Mặt ngọc lặng lẽ, nước mắt chan hòa, Như một cành hoa lê trĩu nặng mưa xuân. Tản Đà dịch thơ: Lệ dàn mặt ngọc lưa thưa, Cành lê hoa trĩu hạt mưa xuân đầm.
    (0228) tóc tơ chưa đền: chưa đền đáp chút gì cả.








      Saturday, December 29, 2012

      0205-0216



      Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866
      0205-0216

      Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
      Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
      Xem thơ nức nở khen thầm:
      Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường.
      Ví đem vào tập đoạn trường,
      Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
      Thềm hoa khách đã trở hài,
      Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
      Gió đâu sịch bức mành mành,
      Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
      Trông theo nào thấy đâu nào,
      Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.


      Chú thích
        (0207) nức nở: chữ khắc trong bản Nôm đọc là "nức thỏm" có phần đúng âm hơn. Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "nức nở" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
        (0208) tú khẩu cẩm tâm : Biền tứ lệ lục, cẩm tâm tú khẩu , (Liễu Tông Nguyên , Khất xảo văn ) Câu bốn chữ liền câu sáu chữ, (văn hay như) lòng gấm miệng thêu.
        (0209) tập đoạn trường: tập thơ của Hội đoạn trường đã nói ở đoạn 0193-0204. Ngoài ra, cũng có quyển thơ Đoạn trường tập của nữ sĩ Chu Thục Chân người Tiền Đường (nay là Chiết Giang Hàng Châu).
        (0211) trở hài: quay gót giày bước trở ra. 
        (0212) cầm: chữ khắc trong bản Nôm thường đọc âm là "ở". Chữ này có dạng gần giống chữ Nôm (+) đọc là "cầm". Nên tạm ghi âm Quốc Ngữ là "cầm" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
        (0216) hương thừa: Lan xạ hương nhưng tại, bội hoàn thanh tiệm viễn , (Tây sương kí 西, Đệ nhất bổn) Mùi hương của hoa lan vẫn còn phảng phất, tiếng vòng ngọc đeo trên người xa dần. Nhượng Tống dịch: Hương lan còn thoảng, tiếng vàng đã xa.



        Friday, December 28, 2012

        0193-0204



        Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1866

        0193-0204

        Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,
        Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
        Hàn gia ở mé tây thiên,
        Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
        Mấy lòng hạ cố đến nhau,
        Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
        Vâng trình hội chủ xem tường,
        Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
        Âu đành quả kiếp nhân duyên,
        Cũng người một hội một thuyền đâu xa.
        Này mười bài mới mới ra,
        Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.

        <trang trước>  <trang sau> 

        Chú thích
        bút hoa vẽ vời
        (0193) thanh khí : Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu , (Dịch Kinh, Càn quái ) Cùng một thanh thì ứng với nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau.
        (0195) hàn gia : lời nói khiêm, chỉ nhà của mình. Cũng như nói: tệ xá, tệ cư, hàn môn, v.v.
        (0195) tây thiên 西: phần mộ ở phía tây; cũng có thể hiểu là ở khu ngoài thành phía tây.
        (0197) hạ cố : đoái tới, trông xuống.
        (0198) hạ tứ : ban cho kẻ dưới.
        (0198) ném châu gieo vàng: Tôn Hưng làm xong bài Thiên Thai phú , đưa cho Phạm Vinh Kì xem và bảo rằng: Khanh thí trịch địa, yếu tác kim thạch thanh 卿試, (Thế thuyết tân ngữ , Văn học ) Ông thử ném thiên văn chương này xuống đất, thì nó sẽ phát ra như tiếng vàng (chuông) tiếng đá (khánh) vậy. Ý nói văn chương hay như ngọc như vàng.
        (0199) hội chủ: chủ hội đoạn trường.
        (0200) đoạn trường : đứt ruột. Ý nói đau lòng như đứt ruột. Sổ đoạn trường là sổ kê tên những người phải chịu oan nghiệp khổ sở.
        (0201) quả kiếp nhân duyên: quả báo duyên nghiệp. Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị. Nhược vấn hậu thế quả, kim sinh tác giả thị , . , (Phật thuyết tam thế nhân quả kinh ) Muốn biết về nhân duyên kiếp trước, thì hãy xem đời này hưởng thụ ra sao. Muốn hỏi về quả báo kiếp sau, thì hay xem đời này ăn ở ra sao.
        (0202) một hội một thuyền: cùng chung một hoàn cảnh, thân phận như nhau.
        (0203) mười bài: tức là mười bài thơ cho Kiều làm theo mười đề mục: (1) Tích đa tài (2) Liên bạc mệnh  (3) Bi kì lộ (4) Ức cố nhân (5) Niệm nô kiều (6) Ai thanh xuân (7) Ta kiển ngộ (8) Khổ linh lạc (9) Mộng cố viên (10) Khốc tương tư .
        (0204) câu thần: câu văn hay như thần thánh làm ra.
        (0204) bút hoa: mộng bút sinh hoa ; Lí Bạch lúc còn nhỏ mộng thấy ngọn bút nở ra hoa, sau trở thành một thi nhân trứ danh đời Đường.
         

        Thursday, December 27, 2012

        0181-0192



        Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871

        0181-0192

        Người đâu gặp gỡ làm chi,
        Trăm năm biết có duyên gì hay không?
        Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
        Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
        Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
        Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu.
        Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
        Có chiều phong vận có chiều thanh tân,
        Sương in mặt tuyết pha thân,
        Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
        Liền mừng đón hỏi dò la:
        Ðào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?


        Chú thích
        (0181) người đâu: chỉ Kim Trọng.
        (0184) nên câu tuyệt diệu: làm được câu thơ văn cực hay. Bởi bốn chữ tuyệt diệu hảo từ . Điển cố: Dương Tu đọc tám chữ khắc trên bia của nàng Tào Nga: Hoàng quyên ấu phụ, ngoại tôn cữu , , và phân tích như sau: hoàng quyên = sắc ti = tuyệt ; ấu phụ = thiếu nữ = diệu ; ngoại tôn = nữ tử = hảo ; cữu = thụ tân = từ , thành câu "tuyệt diệu hảo từ" (Thế thuyết tân ngữ , Tiệp ngộ ). Câu thơ của Nguyễn Du ở đây ý nói Thúy Kiều vừa làm xong một bài thơ tứ tuyệt rất hay.
        (0186) tựa ngồi bên triện: Đào Duy Anh giải thích: "triện" chỉ cái cửa sổ có chấn song làm hình chữ triện. Theo nguyên truyện: Thúy Kiều đề bãi, tình tư bất khoái, ẩn kỉ nhi ngọa, mông mông lông lông , , , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện) nghĩa là: Thúy Kiều đề thơ xong, tâm thần mỏi mệt, liền tựa ghế mà nằm, mơ mơ màng màng.
        (0187) tiểu kiều : người con gái xinh xắn. 
        (0188) phong vận : dung mạo tư thái xinh đẹp.
        (0188) thanh tân : tươi tắn.
        (0189) sương in mặt tuyết pha thân: Tản Đà ghi: Câu này ý nói trên mặt và trên thân người tiểu kiều ấy, còn như có sương tuyết in phủ, ấy là tả cái tình trạng của một người đêm tối đi đến, (...) từ nơi xa đó đến chơi vậy. Theo nguyên truyện: Thúy Kiều mang chỉnh y tương nghênh, kiến na nữ tử đạm trang tố phục , (Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện), nghĩa là: Thúy Kiều vội sửa áo xiêm đứng dậy đón chào, thấy cô gái ấy trang điểm sơ sài, mặc quần áo trắng.
        (0190) sen vàng: chỉ bước chân của người đàn bà đẹp. Điển cố: Đông Hôn Hầu đời Nam Tề, yêu Phan phi , sai làm hoa sen dát vàng xuống đất cho nàng đi, và bảo rằng: Thử bộ bộ sinh liên hoa dã (Nam sử, Tề kỉ hạ), nghĩa là: mỗi bước chân nở ra một đóa sen.
        (0192) đào nguyên : nguồn đào. Theo bài Đào hoa nguyên kí của Đào Tiềm đời Tấn: Có người đánh cá ở Vũ Lăng theo dòng suối đi mãi vào tới rừng hoa đào, gặp người lánh nạn từ đời Tần ở trong ấy. Ý nói đến cảnh thần tiên.








          Wednesday, December 26, 2012

          0169-0180



          Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871

          0169-0180

          Dưới dòng nước chảy trong veo,
          Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

          Kiều từ trở gót trướng hoa,
          Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
          Gương nga chênh chếch dòm song,
          Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân.
          Hải đường lả ngọn đông lân,
          Giọt sương treo nặng cành xuân la đà.
          Một mình lặng ngắm bóng nga,
          Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
          Người mà đến thế thì thôi,
          Ðời phồn hoa cũng là đời bỏ đi.


          Chú thích
          hải đường lả ngọn đông lân
            (0169) dưới dòng: theo chữ Nôm phải đọc là "dưới khe". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dưới dòng" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
            (0170) thướt tha: theo chữ Nôm phải đọc là "đã ra". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "thướt tha" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
            (0172) gác núi: theo chữ Nôm phải đọc là "đến đất". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "gác núi" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
            (0172) thu không: Ở các lầu canh như cửa thành, khi chập tối thì đánh một hồi trống hay hồi chiêng gọi là "thu không" (theo Đào Duy Anh). Có thuyết cho là bởi chữ sưu không nghĩa là thu thập xem xét trong thành lúc bắt đầu tối. 
            (0173) gương ngachỉ mặt trăng. Bởi chữ Tố Nga , là vợ Hậu Nghệ 羿, uống trộm thuốc trường sinh bất tử của chồng, bay lên cung trăng thành tiên. Còn gọi là Thường Nga , Hằng Nga .
            (0173) chênh chếch: theo chữ Nôm phải đọc là "vành vạnh". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "chênh chếch" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
            (0173) dòm: theo chữ Nôm phải đọc là "từ". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "dòm" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác. 
            (0175) hải đường : tên khoa học Malus floribunda, là một danh hoa truyền thống Trung Quốc, có nhiều loại rất đẹp, xưa nay các văn nhân mặc khách đề vịnh bất tuyệt. Văn hào Tô Đông Pha có viết: Chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ, Cố thiêu cao chúc chiếu hồng trang , (Hải Đường ) Đêm thâu chỉ ngại hoa yên giấc, Nâng đuốc soi hoa tỏ mặt hường (VP dịch). Cổ nhân còn gọi hoa hải đường là "đoạn trường hoa", mượn hoa tả tình cảm buồn thương li biệt. 
            (0175) đông lân: chỉ hàng xóm, láng giềng. Bởi chữ đông lân tây xá 西. 
            (0177) bóng nga: chỉ mặt trăng. Xem chú thích gương nga 0169-0180 . Ghi chú: bản chữ Nôm khắc là Tố Nga. Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "bóng nga" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
            (0178) đường gần: bản Nôm khắc là "đường xa". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "đường gần" theo nhiều bản Nôm phổ biến khác.
            (0179) người mà: chỉ Đạm Tiên.







            Saturday, December 22, 2012

            0157-0168



            Bản chữ Nôm Liễu Văn Đường 1871

            0157-0168

            Nước non cách mấy buồng thêu,
            Những là trộm dấu thầm yêu chốc mòng.
            May thay giải cấu tương phùng,
            Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa.
            Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
            Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
            Người quốc sắc kẻ thiên tài,
            Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
            Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
            Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.
            Bóng tà như giục cơn buồn,
            Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.

            <trang trước>  <trang sau> 

            Chú thích
            quốc sắc thiên hương
              (0157) nước non cách mấy: sông núi xa cách, bởi câu mạc nhược hà sơn xa như núi sông cách trở.
              (0157) buồng thêu: bởi chữ tú phòng , chỉ chỗ ở của đàn bà con gái. Ghi chú: chữ Nôm trong bản này đúng ra phải đọc là "buồng điều". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "buồng thêu" theo nhiều bản Nôm quen thuộc khác.
              (0158) trộm dấu thầm yêu: yêu thương nhung nhớ trong lòng, người ngoài chưa biết.
              (0158) chốc mòng: bấy lâu nay.
              (0159) giải cấu tương phùng : không hẹn mà gặp.
              (0160) đố lá: có thuyết cho là trò chơi ngày xưa người ta hái hoa lá đem ra hỏi, thi đua với nhau.
              (0161) bóng hồng: bóng người đẹp.
              (0162) xuân lan thu cúc : Trần Hậu Chủ hỏi Tùy Dưỡng Đế: Tiêu Phi (hậu phi của Tùy Dưỡng Đế) và Trương Lệ Hoa (sủng phi của Trần Hậu Chủ), ai đẹp hơn ai? Tùy Dưỡng Đế trả lời: Xuân lan thu cúc, các nhất thì chi tú dã , 各一 (Đại nghiệp thập di kí ) nghĩa là: Hoa lan mùa xuân, hoa cúc mùa thu, mỗi thứ có cái đẹp theo từng mùa. Câu thơ của Nguyễn Du ý nói Thúy Kiều và Thúy Vân mỗi người đẹp một vẻ.
              (0163) quốc sắc : sắc nước, chỉ người đẹp. Thiên hương dạ nhiễm y, Quốc sắc triêu hàm tửu , (Lí Chính Phong ) Hương trời đêm thấm áo, Sắc nước sớm rượu say. Hai câu này vốn tả hương sắc tuyệt trần của hoa mẫu đơn, sau mượn chỉ người đẹp.
              (0163) thiên tài : tài năng trác tuyệt trời phú cho.
              (0166) rốn ngồi: nán lại thêm một chút.
              (0166) chỉn khôn: cũng khó.
              (0168) lên: chữ Nôm trong bản này đúng ra phải đọc là "xuống". Nhưng tạm ghi âm Quốc Ngữ là "lên" theo nhiều bản Nôm quen thuộc khác.
              (0168) nghé theo: trông theo, ngóng theo.